trang chính tiểu sử tranh ảnh nhạc tập nhạc bút tích tưởng nhớ english
TRỊNH CÔNG SƠN (02/28/1939 - 04/01/2001)
  
Tưởng Nhớ


Hợp Lưu số 59 tháng 6 & 7, 2001, Trịnh Công Sơn, Một Cơi Đi Về
Văn Học số 186 & 187 tháng 10 & 11, 2001. Trịnh Công Sơn, T́nh Yêu, Quê Hương, Thân Phận
Hoàng Xuân Sơn
Nguyễn Văn Tuấn

Văn số 53 & 54 Tháng 5 & 6, 2001

  • Nguyễn Xuân Hoàng SỔ TAY THÁNG NĂM 4
  • Đặng Tiến TRỊNH CÔNG SƠN ĐỜI VÀ NHẠC 9
  • Nguyễn Văn Tuấn VĨNH BIỆT THI SĨ DU CA TRỊNH CÔNG SƠN 24
  • Phạm Duy NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN T̀NH YÊU VÀ THÂN PHẬN 31
  • Phạm Duy LŨ CHÚNG TÔI, KHI NHẬP CUỘC, KHI XUẤT THẾ 33
  • Tô Thùy Yên MỖI CA KHÚC NHƯ MỘT LỜI TRĂN TRỐI 37
  • Tô Thùy Yên NGƯỜI DU CA CHÍNH HIỆU 39
  • Văn Cao TRỊNH CÔNG SƠN: NGƯỜI CA THƠ 40
  • Luân Hoán THÊM MỘT TIN BUỒN 42
  • Bùi Bảo Trúc VỀ TRỊNH CÔNG SƠN 43
  • Nam Dao TRỊNH CÔNG SƠN NHƯ CÁNH VẠC BAY 63
  • Đinh Cường GỞI SƠN, NHỮNG ĐOẠN GHI RỜI CỦA NGƯỜI BẠN Ở XA 70
  • Nguyễn văn Thọ NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN 73
  • Bủu Chỉ 76
  • Trịnh Cung BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN 77
  • Nguyễn Quốc Trụ NHỮNG NGÀY TRỊNH CÔNG SƠN 84
  • Nguyễn Đăng Thường THIÊN TÀI VÀ THIÊN TAI 86
  • Đặng Mai Lan TRỊNH CÔNG SƠN TRONG TÔI, TỪ ĐÓ 88
  • Vũ Thư Hiên THƯƠNG NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN 91
  • Thượng Văn ÂM NHẠC VÀ CHÍNH TRỊ 94
  • Hoàng Xuân Sơn BÀI CA NHỮNG TẾ BÀO 96
  • Nguyễn Trọng Khôi MỘT PHIẾN TÀI T̀NH 100
  • Trần Kiêm Đoàn TRỊNH CÔNG SƠN NH̀N TỪ MỘT HUẾ XƯA 106
  • Ngọc TRỊNH CÔNG SƠN, MỘT CƠI ĐI VỀ 111
  • Đinh Trường Chinh TRỊNH CÔNG SƠN CON TINH YÊU THƯƠNG 113
  • John Schafer CHÚT L̉NG VỚI TRỊNH CÔNG SƠN 116
  • Trường Kỳ KHÁNH LY: NHỮNG LỜI TỬ TẾ ÔNG SƠN DẬY TÔI 118
  • Mai Thy TRỊNH CÔNG SƠN TÔI LUÔN LUÔN SỐNG VỚI HIỆN TẠI 125
  • Thanh Tùng ANH ĐĂ VẮT CẠN T̀NH YÊU CHO ĐỜI 126
  • Nguyễn Trọng Tạo VĨNH BIỆT ĐỜI VỀ CƠI THÊNH THANG 128
  • Từ Huy CHẠM ĐẾN TRỊNH CÔNG SƠN 129
  • Lê Minh Quốc RƠI LỆ RU NGƯỜI 130
  • Nguyễn Đăng Thường H̀NH TRỊNH CÔNG SƠN 132


    ° Trịnh Công Sơn Bút tích - Kư - Truyện Ngắn 133
  • Trịnh Công Sơn BÚT TÍCH TRỊNH CÔNG SƠN 133
  • Trịnh Công Sơn TRỊNH CÔNG SƠN NGHĨ VỀ KHÁNH LY / VĨNH TRINH / HỒNG NHUNG (1995) 134
  • Trịnh Công Sơn NỖI L̉NG CỦA TÊN TUYỆT VỌNG 135
  • Trịnh Công Sơn TÔI ĐĂ MƠ THẤY CHUYẾN ĐI CỦA M̀NH 137
  • Trịnh Công Sơn ĐỂ BẮT ĐẦU MỘT HỒI ỨC 138
  • Trịnh Công Sơn DIỄM CỦA NHỮNG NGÀY XƯA 139
  • Trịnh Công Sơn CUỘC SỐNG KHÔNG THỂ THIẾU T̀NH YÊU 141
  • Trịnh Công Sơn PHÁC THẢO CHÂN DUNG TÔI 142
  • Trịnh Công Sơn BÀI HÁT ĐẦU TIÊN BÀI HÁT CUỐI CÙNG 143
  • Trịnh Công HỒI ỨC VỀ NHẠC PHẨM ... HẠ TRẮNG 145
  • Trịnh Công Sơn CA KHÚC MANG ĐẾN SỰ CẢM THÔNG GIỮA MỌI NGƯỜI 146
  • Trịnh Công Sơn CHÚ LỘ 152
  • VỀ TRỊNH CÔNG SƠN


    Bùi Bảo Trúc

    1

    Lặng lẽ nơi này

    Trịnh Công Sơn người nhạc sĩ của hơn hai thế hệ người Việt vừa tạ thế tại Sài G̣n hưởng thọ 62 tuổi, một người rất gần gũi mà cũng rất xa chúng ta. Ông là người mà ai cũng biết nhưng cũng không ai biết ông bao nhiêu ngoài gia đ́nh và một vài người bạn rất thân.

    Sinh ngày 28 tháng Hai năm 1939, qua đời ngày 1 tháng Tư, năm 2001 tại Sài G̣n. Trịnh Công Sơn quê ở Huế nhưng ra đời ở Đắc Lắc. Tiểu sử, ông chỉ ghi như thế.

    Lặng lẽ nơi này, như tựa của một bài hát ông viết, có lẽ là một tóm gọn khá đúng về cách sống của ông:

    Trời cao đất rộng, một ḿnh tôi đi
    Đời như vô tận, một ḿnh tôi về
    một ḿnh tôi về với tôi...

    Từ căn nhà cũ ở Phú Cam, Huế, Trịnh Công Sơn lớn lên, bỏ vào Sài G̣n, theo bạn bè, âm nhạc. ông không ồn ào những bước đưa nhạc của ḿnh vào với người nghe.

    Năm 1965, ở trụ sở sinh viên đại học góc đường Duy Tân Hồng Thập Tự, người thanh niên có cái vẻ rất thư sinh, gầy g̣ ấy cầm chiếc Tây Ban Cầm bước lên bục, sau đôi lời giới thiệu rất ngắn và giản dị của một người trong ban tổ chức, cất lên tiếng hát chưa mấy ai biết ở Sài G̣n thời ấy, và từ đó, nhạc Việt Nam không bao giờ c̣n như cũ nữa.

    Trong số những ca khúc ông hát hôm ấy, có bài Gọi Tên Bốn Mùa. Sài G̣n hôm ấy vừa xong một cơn mưa. Cơn mưa vào hạ, những giọt th́ thầm, cành khô bơ vơ, buổi chiều xao xác, tuổi thơ, tin buồn... Không khí ấy, cứ nghe lại vài ba đoạn trong ca khúc Gọi Tên Bốn Mùa, lại trở về, như mùa thu cũ, một thời, một đời...

    Trịnh Công Sơn tới với người thưởng ngoạn bằng nhạc, nhưng căn bản, ông là một thi sĩ.

    Ông như người nhạc sĩ mù trong một bức vẽ của Picasso, thời kỳ xanh. Người nhạc sĩ cầm cây đàn, cây đàn không có dây, dạo lên những âm thanh mà chỉ ông nghe thấy, v́ nó đi ra thẳng từ quả tim của ông.

    Trịnh Công Sơn cũng thế. ông viết rất dễ dàng. Trong trí, trên một mảnh giấy lau tay trong một tiệm nước, bất cứ chỗ nào. Như một thi sĩ, v́ ông chính là một thi sĩ.

    Có những bản nhạc của ông, phần lời ca đúng là những bài thơ. ông dùng nhạc để nâng đỡ những đoạn thơ đó. Và ông cũng dùng thơ để dẫn những đoạn nhạc đi. Nhạc của ông không khúc mắc là v́ thế.

    Ngôn ngữ thơ trong phần lời ca của ông đưa người nghe vào một thế giới với những h́nh ảnh hoàn toàn mới. H́nh ảnh lăng mạn mà ông tạo ra không c̣n dấu tích của ḍng nhạc bước đi từ thời tiền chiến. Nó đưa tới sự chấm dứt những ảnh hưởng cũ đă ở trong nhạc Việt từ hơn ba mươi năm. Đến Trịnh Công Sơn, nhạc Việt mới đi hẳn về một chiều mới.

    Ngôn ngữ t́nh yêu của ông không là những ngôn ngữ của thi ca lăng mạn Việt Nam trước đó. Đó là một thứ ngôn ngữ để nói về t́nh yêu trong một nỗi bất an, một không gian bất ổn, của chung quanh đầy xao động.

    Có thể nói Trịnh Công Sơn làm thơ bằng âm nhạc. Âm nhạc chỉ là một phương tiện để chuyên chở thơ của ông. Trong những chuỗi âm thanh mà nhạc dẫn dắt chúng ta đi theo ông, người nghe, vẫn thấy lấp ló đâu đó con người thi sĩ của ông. Chữ nghĩa thi ca của ông không cầu kỳ, cũng không khuôn sáo. Những chữ đă rất cũ, qua tay ông, được mặc cho những bộ áo mới. Th́ đây, chữ nghĩa đă cũ, nhưng nghe qua Trịnh Công Sơn th́ lại rất mới:

    Tôi ru em ngủ
    Một sớm mùa đông
    Em ra ngoài ruộng đồng
    Hỏi thăm cành lúa mới
    Tôi ru em ngủ
    Một sớm mùa thu
    Em đi trong sương mù
    Gọi cây lá vào mùa...

    Trịnh Công Sơn là một tài hoa hết sức đa dạng. Ông viết về nhiều thứ nhạc khác nhau. Từ những t́nh ca xót xa, nghe tê dại, đau đớn, những t́nh khúc bất hạnh đến những bài ngợi ca quê hương đất nước, một ước mơ ḥa b́nh hiền lành của dân tộc. ông nói hộ cho một hai thế hệ những điều đó. Nhưng nhạc t́nh của ông, bằng những h́nh ảnh rất mới, của thơ, đă trở thành dấu ấn của Trịnh Công Sơn.

    Ông quan niệm như thế này về nhạc t́nh: "Khi bạn hát một bản t́nh ca là bạn đang muốn hát về cuộc t́nh của ḿnh. Hăy hát đi, đừng e ngại, dù hạnh phúc hay dở dang th́ cuộc t́nh ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi."

    Và bởi thế, những t́nh khúc mà ông viết, đă trở thành những t́nh ca chung của tất cả. Tính chất riêng tư không c̣n nữa.

    Diễm trở thành không thực. Chỉ c̣n nhớ măi trong cơn đau vùi, buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua như trong ca khúc Diễm Xưa, nghe một lần rồi măi măi không bao giờ quên được

    Trịnh Công Sơn ra đi là một mất mát vô cùng lớn của những người yêu nhạc Việt. ông để lại một thế giới đẹp hơn.

    Và nói như Kiều Chinh sáng hôm nghe tin ông mất, được sống cùng thời với Trịnh Công Sơn, là một vinh hạnh.

    2

    trịnh công sơn, nhạc t́nh

    Ở trang 11 của tuyển tập Những Bài Ca Không Năm Tháng, Trịnh Công Sơn viết về hai nỗi ám ảnh trong đời ông như thế này: Sống giữa đời này chỉ có thân phận và t́nh yêu. Thân phận th́ hữu hạn. T́nh yêu th́ vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng t́nh yêu để t́nh yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá Đời.

    Ông viết những ḍng trên có thể trong cuối thập niên 90, khi 127 ca khúc được thu thập in lại thành tuyển tập. Nhưng nh́n lại những nhạc phẩm mà người ta được nghe của ông, th́ t́nh yêu là ám ảnh lớn hơn tất cả các đề tài khác của Trịnh Công Sơn.

    Có thể khẳng định rằng nếu sống vào một thời điểm khác, ḥa b́nh hơn, hạnh phúc hơn, Trịnh Công Sơn đă chỉ viết một loại ca khúc: nhạc t́nh. Nhưng chiến tranh bầy ra cho ông một bất hạnh lớn. Bất hạnh đó kéo ông về những đau đớn triền miên của dân tộc. Những đau đớn bất hạnh đó không cho ông được phép thản nhiên để ca ngợi t́nh yêu, và v́ thế mà trong t́nh ca của ông, vẫn thấy bóng dáng của khổ đau, bất hạnh. Trong bài T́nh Sầu, với ông, t́nh yêu, ngay cả những lúc dịu dàng nhất, cũng vẫn như những khổ đau của trái phá, con tim mù ḷa, vết cháy trên da thịt, cơn băo qua địa cầu...

    Trịnh Công Sơn cứ bị kéo trở lại với những bất hạnh như thế, nên những t́nh ca ông viết cũng không là những bài ngợi ca hạnh phúc. Nó là những bất hạnh của chia xa, của những thương tích khổ đau, tuyệt vọng. Chính Trịnh Công Sơn cũng nói rơ điều ấy : "Mỗi bài hát của tôi là một lời tỏ t́nh với cuộc sống, một lời nhắn nhủ thầm kín về nhưng nỗi niềm tuyệt vọng, và cũng là một nỗi ḷng tiếc nuối khôn nguôi đối với buổi chia ĺa (một ngày nào đó) cùng mặt đất mà tôi đă một thời chia xẻ những buồn vui cùng mọi người."

    Nên ông mong có được tin vui từ gạch đá dẫu mai nơi này người có xa người, hăy hát t́nh ca, hăy yêu nhau dẫu đang chênh vênh bên bờ của nguy khốn, hạnh phúc và thương đau cứ hăy trao cho nhau...

    Trịnh Công Sơn, thủy chung vẫn chỉ ở với nhạc t́nh. Bài ca đầu tiên và cuối cùng của ông đều là những t́nh ca. Trong một chiều dài một nửa thế kỷ sáng tác, từ những năm 1950 đến cuối thập niên 90, Trịnh Công Sơn viết nhiều nhất vẫn là nhạc t́nh. Bản t́nh ca đầu tiên không phải là bài Ướt Mi như nhiều người vẫn nghĩ. ông cho biết ca khúc viết cho t́nh yêu đầu tiên của ông là bài Sương Đêm mà nay ông chỉ c̣n nhớ được cái tựa. Không một ai biết bài hát này. ông cho biết nó đă thất lạc với những biển dâu trùng trùng của đời sống. Ướt Mi lần đầu tiên được hát trước công chúng là tại pḥng trà Văn Cảnh bởi tiếng hát của Thanh Thúy. Ca khúc này biến Trịnh Công Sơn thành một tên tuổi nổi tiếng lập tức.

    T́nh khúc Ướt Mi là khởi đầu cho chuyến đi rất dài, trên đó, ông để lại cho người thưởng ngoạn nhiều t́nh ca khác. Nhưng Ướt Mi, tuy thế, không phải là ca khúc viết về t́nh yêu hay nhất của ông. Nó vẫn c̣n những nét sơ phác cả về nhạc lẫn lời ca. Phải đợi đến Diễm Xưa, và Nắng Thủy Tinh, mức độ trưởng thành về nhạc và sự chín tới của lời ca mới thấy rơ nơi nhạc Trịnh Công Sơn.

    Mầu nắng và mầu mắt, chiếc bóng nghiêng, bàn tay xôn xao, gió mây ngàn, hàng cây thắp nến... với Nắng Thủy Tinh, t́nh ca Việt Nam đi sang một hướng mới. Ngôn ngữ dùng làm lời ca là ngôn ngữ của thi ca, mới từ âm thanh đến ư nghĩa. Trước và sau Trịnh Công Sơn không ai viết thứ lời ca như thế...

    Trong chiều dài sáng tác của Trịnh Công Sơn, ông cứ tiếp tục làm mới ông măi măi. So với Nắng Thủy Tinh, th́ Như Cánh Vạc Bay lại hoàn toàn đi sang một lối khác. Cái đau đớn, chết chóc không c̣n nữa, nhưng niềm tuyệt vọng th́ c̣n nguyên. Câu cuối của bài hát này, cứ như những ṿng sóng trên mặt hồ, chạm vào bờ, rồi lại chạy ra giữa hồ hoài hoài măi măi. Những sợi tóc từ đó măi măi là nhăc nhở về mặt hồ sóng. Nắng th́ hờn ghen, mưa th́ làm buồn đôi mắt. Đặc tính thơ hiện ra rất rơ trong Như Cánh Vạc Bay, làm khía cạnh thơ lấn hẳn phần nhạc.

    Quỳnh Hương mà ông viết trong thập niên 70 lại đưa nhạc của ông đi xa khỏi cái bờ bến đầu tiên của Ướt Mi thêm một đoạn đường dài khác. ông nhẹ nhàng như những bước nhún nhẩy của nhịp 2/4 như một lời tỏ t́nh hân hoan...

    Bông hoa quỳnh ông đem tặng người yêu dấu cũng là món quà người nhạc sĩ viết t́nh ca để lại cho chúng ta, cho đời sống, đời sống rất đẹp mà ông chỉ cho chúng ta t́m lại được trong thế giới nắng hạn đă có lúc bốc cháy tan nát này.

    3

    phản chiến?

    ở Việt Nam, thế hệ ra đời từ khoảng cuối thập niên 30 đến những năm đầu của thập niên 50 là thế hệ bất hạnh nhất.

    Trong lịch sử Việt Nam, chắc chắn họ là những người tử trận nhiều nhất, góa bụa nhiều nhất và mồ côi nhiều nhất. Họ vừa lớn lên, là đă đụng mặt với một trong những cuộc chiến kinh hoàng, ghê khiếp nhất lịch sử nhân loại.

    Trịnh Công Sơn mới bước vào tuổi biết nghĩ, là lúc chiến tranh cũng đang sửa soạn đi vào giai đoạn khốc liệt nhất. Trong những cái ốc đảo nhỏ của những thành phố ông đă ở đó, âm thanh của cuộc chiến vẫn vọng về, tiếng nổ của đại bác đă thay cho tiếng ru hằng đêm, những đứa bé côi cút lơa lồ, những người già trong công viên, đàn ḅ ngu ngơ... nhắc nhở cho ông không khí đầy súng đạn, chết chóc chung quanh. Chỉ là gỗ, là đá mới không cảm thấy được những khổ đau, bất hạnh của đất nước, của dân tộc.

    Mà làm sao người ta có thể biết chắc được rằng gỗ, rằng đá không đau? Bia đá cũng c̣n biết đau như ông đă viết trong một ca khúc. Đá c̣n vậy huống chi con người trước những tang tóc, đau thương của đồng loại.

    Từ một người chỉ muốn được một đời viết và hát nhạc t́nh, ngợi ca t́nh yêu, th́ cuộc chém giết hàng ngày chung quanh ông đă bắt ông phải nói lên những khát vọng ḥa b́nh, của chúng ta, của cả dân tộc Việt. Không phải chỉ bên này, hay chỉ bên kia mới được quyền nói, kêu gọi, đ̣i hỏi ḥa b́nh, mà chính bạn, tôi, chúng ta, như trong ca khúc nhan đề Chính Chúng Ta Phải Nói, ca khúc một thời trên môi tuổi trẻ Việt Nam ở các sân trường học.

    Năm 1968, khi chiến tranh ở giai đoạn khốc liệt nhất, th́ đó cũng là năm nhạc của Trịnh Công Sơn đi sang một hướng đi khác. Vẫn viết tiếp những ca khúc lăng mạn ngợi ca những mối t́nh đến rồi lại đi, nhưng ngay trong các t́nh khúc ấy, tiếng đạn bom, trái phá, cũng đă trùng khắp, con phố xưa đầy dấu đạn, tên em cũng là vết thương khô.

    Trịnh Công Sơn bắt đầu viết những ca khúc được nhiều người gọi là nhạc phản chiến.

    Không một người có trái tim mà không biết nhỏ lệ, mà không biết khóc cho cả một dân tộc, cho anh, cũng như cho em đang quằn quại trong niềm thù hận mà ông gọi là "giả tạo" đó.

    Trịnh Công Sơn viết về giọt nước mắt của người mẹ thương đứa con, thương sông, thương rừng, thương đất, thương mây, thương chim, thương đêm, giọt nước mắt không tên, bài hát cảm động nghe muốn khóc. Nguyễn Đ́nh Toàn, một lần, khi giới thiệu giọng hát Khánh Ly, đă gọi đó là giọng hát đi rao giảng những bất hạnh của dân tộc, giọng hát để tang cho đất nước.

    Khánh Ly chỉ là người đem những điều Trịnh Công Sơn viết xuống và chuyển đúng được những điều ông gửi gấm.

    Tập nhạc ông đặt tên là Kinh Việt Nam, xuất bản năm 1968, theo chính lời ông viết ở trang đầu, là tiếng kêu thương thống thiết, khởi từ một thực trạng máu xương, là ḷng mơ ước về một rạng đông cho đêm tối dài lâu này. Đó là những bài hát được viết từ nhưng hân hoan lắng nghe được trong ḷng người, là nỗi hân hoan của đam đông chờ mong ngày hồi sinh.

    Nếu đó là nhạc phản chiến, th́ tất cả chúng ta đều có đầy đủ lư do và chính nghĩa để chống lại chiến tranh. Phản chiến, như thế, không là một taboo, một cấm kỵ nữa, mà là một ước ao tốt đẹp nhất của con người.

    Trịnh Công Sơn chống lại chiến tranh, giết chóc một cách hiền lành. ông không đ̣i xương máu, ông không đ̣i trả thù, ông không đ̣i tiêu diệt bên này, chôn sống bên kia. ông bất lực không làm ǵ được để chặn những viên đạn bay, để nâng dậy ḥa b́nh khốn khổ cho dân tộc đầy đọa triền miên bao nhiêu năm. Ước mơ tội nghiệp đó nghe được trong tất cả những ca khúc phản chiến của ông.

    Trịnh Công Sơn, trong thế đứng khó khăn, thế đứng dựa vào nhân bản và dân tộc đó, ông đă giữ được cho đến lúc qua đời mặc dù trong đời sống, đă có lúc ông bị buộc phải đi trên sợi dây cheo leo, dưới chân là bờ vực hiểm nghèo. Nhưng ḷng yêu quê hương, ḷng thương người của ông, những giọt nước mắt cho người mẹ ngồi chờ, cho người lính ngồi chờ trên đồi, cho chúng ta, là những điều sẽ c̣n măi trong ḷng cả một xứ sở, một dân tộc trong nhiều năm nữa, chừng nào c̣n có người hát nhạc Việt.

    4

    trịnh công sơn và tôn giáo

    Nhạc tôn giáo ít khi tiến được ra ngoài những bức tường của thánh đường hay sân chùa để được tŕnh tấu và thưởng thức cùng với các loại nhạc phổ thông và thời trang khác. Lư do là v́ cấu trúc của loại nhạc này quá cổ điển, và ngôn ngữ quá tôn nghiêm. Tính chất tôn nghiêm đó khiến cho khó có thể nói về t́nh yêu, thứ t́nh cảm thuần khiết và giản dị nhất của con người. V́ thế, nhạc tôn giáo vẫn tiếp tục ở măi trong những bức tường thâm nghiêm của giáo đường và chùa chiền.

    Đầu thập niên 60, The Singing Nun, một nữ tu người Bỉ cũng có biệt hiệu khác là Soeur Sourire, với cây Tây Ban cầm, đă rất thành công trong thế giới nhạc Pop với hai bài Entre Les étoiles và Dominique, hai bài hát mang rất nhiều h́nh ảnh tôn giáo, nhưng lại được những người trẻ tuổi nghe nhạc Pop ưa thích ngay. Hai nhạc phẩm lời ca viết bằng tiếng Pháp cũng được ưa chuộng ở các nước nói tiếng Anh. Những rào cản cũ bị dẹp bỏ.

    Cùng lúc, Trịnh Công Sơn cũng đem dùng một số những từ ngữ mà trước đó được giữ trong một nơi chốn khác hơn là ngôn ngữ âm nhạc thời trang.

    Những chữ phúc âm, lời buồn thánh... dẫu chuỗi h́nh ảnh đi kèm vẫn là của t́nh yêu lăng mạn, nhưng đó là lần đầu tiên những loại từ ngữ này được dùng trong những bản nhạc không mang không khí của giáo đường. Trịnh Công Sơn đem thứ ngôn từ đó ra ngoài, biến chúng trở thành thân quen, t́nh tứ. Chiều chủ nhật, thiên thần, ăn năn... những từ ngữ vang vọng tiếng chuông, tiếng phong cầm ấy được nối tiếp sau đó không bao lâu bằng nhạc phẩm mang tựa đề Phúc Âm Buồn, cũng lại là một thứ từ ngữ nghe là thấy không khí của tôn giáo. Nhưng Trịnh Công Sơn chỉ dùng những từ ngữ đó như một cái cớ để giàn trải những t́nh cảm lăng mạn của ông. Không khí mà chữ nghĩa lấy từ trong tân ước được lồng vào hai bản t́nh ca của Trịnh Công Sơn. ông biến những chữ trước đó luôn luôn gây những ấn tượng trang nghiêm lạnh buốt thành những ngôn từ gần gũi hơn, thân mật hơn. Đă có lúc người ta tưởng đạo Cơ Đốc là tôn giáo của ông.

    Trong một cuộc phỏng vấn mới đây, Trịnh Công Sơn cho biết đạo Phật đă ảnh hưởng sâu đậm trên t́nh cảm thời thơ ấu của ông. Nhưng lớn lên, càng lớn, và càng nh́n ra những khổ hạnh trong đời sống, những bất công, những đau đớn cuộc chiến mang lại, Trịnh Công Sơn càng thấy ra những lời gọi của tôn giáo. ông t́m được an ủi, trong tuyệt vọng, ông t́m được vỗ về trong hạnh phúc mong manh, phù du.

    Bài Đóa Hoa Vô Thường, một ca khúc đẫm hương thiền lại là một ca khúc hạnh phúc nhất của ông. Trong đó, sự cứu rỗi đón lấy ông giữa những trang kinh thơm mùi sen cao quí. Đời sống phù du bỗng b́nh an vô thường.

    Trịnh Công Sơn dùng h́nh ảnh từ những trang kinh ra để nói về t́nh yêu. Nhưng rồi ông cũng lại dùng những lời ca tầm thường nhất để tạo một không gian đầy tôn giáo. Bài Nguyệt Ca là một ca khúc như thế.

    Điều đó cho thấy là bao giờ, thủy chung, Trịnh Công Sơn cũng vẫn là một nhạc sĩ viết t́nh ca, loại nhạc sẽ ở măi với con người cho dẫu thời gian, không gian có đổi thay.

    5

    những ru khúc

    Trịnh Công Sơn, năm 1995, khi thân mẫu qua đời, đă viết đầy kín một trang giấy những suy nghĩ của ông về cái ngày đau buồn đó. Với ông, chuyện mất mẹ là một chuyện không thể thỏa hiệp, không thể giàn xếp được, dẫu cho người con có bao nhiêu tuổi đi chăng nữa. ông sống rất lâu với mẹ, từ khi mất cha. ông bị ảnh hưởng rất nhiều nơi mẹ. Thế nên sự ra đi của người mẹ, mới là điều không thể thỏa hiệp được với ông như ông nói ở trên. Chính những bài hát ông nghe được của mẹ đă tiếp tục theo ông măi trên những đoạn đường dài nhất. Những bài hát mẹ hát để ru những người em đă trở thành những hạt mầm mọc lên những ca khúc ông viết sau này. Trong bài T́nh Yêu T́m Thấy, người ta nghe được câu này về những bài hát ru ấy: Tiếng ru mẹ hát những năm xưa, măi là lời ca dao bốn mùa, t́m thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá, góc phố nào cũng thấy quê nhà...

    Ông rời nhà đi học ở một thành phố lạ, h́nh ảnh mang theo của bà mẹ là những bài hát ru. Và ông nhắc đến những bài hát ru ấy rất nhiều trong các ca khúc của ông.

    Những bài hát ru của Việt Nam là những vỗ về, là những dỗ dành, là những an ủi, là những vuốt ve đầu tiên của những đứa bé. Ṿng tay thơm, giọng hát ấm áp của người mẹ đem lại cảm giác an toàn cuối cùng cho người ta trước khi bị đẩy ra thế giới có khi rất hung bạo ở ngoài cửa. Trịnh Công Sơn t́m thấy trong những bài hát ru ấy một chỗ trú ẩn rất b́nh yên. Đời sống của người thanh niên trẻ lần đầu tiên sống xa những bức tường an toàn của ngôi nhà cũ ở Huế khiến ông cứ t́m cách để trở về với nó măi. Và đó là lư do Trịnh Công Sơn viết rất nhiều ru khúc trong chu tŕnh sáng tác của ông. ông viết để trở về với đoạn đời hạnh phúc, an toàn ấy trong khi đi qua những con đường đầy những gập ghềnh của thế giới ông vừa tiến vào.

    Ru Ta Ngậm Ngùi là những an ủi, vuốt ve cho chính ḿnh trong niềm cô đơn tội nghiệp. ông muốn được trở lại ngủ trong ṿng nôi, trong tiếng ru ấy.

    Những bài hát ru đem lại cho người nghe cảm giác an toàn hạnh phúc. Và cuộc đời càng đưa tới những băo táp nghiệt ngă, th́ người ta càng muốn t́m trở lại nơi trú ẩn cũ. Những bài hát ru của thời thơ ấu cho ông nơi trú ẩn đó. Chiến tranh càng khốc liệt, th́ ngừơi ta càng cần đến nhiều hơn những nơi trú ẩn, những nơi trú ẩn an toàn nhất của thời thơ ấu, đó là những bài hát ru trong ḷng người mẹ. Trịnh Công Sơn nh́n thấy,một cách kinh hoàng khi những tiếng đại bác thay thế cho tiếng ru hàng đêm: đại bác ru đêm vọng về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.

    Ông thấy phải thay những tiếng nổ đó bằng những ru khúc. Những bài hát để ru những anh và những em, những người già, và những em bé, ru đất nước và dân tộc, ru cho những đau thương, những bất hạnh ngủ yên.

    Trịnh Công Sơn, trong khi đi t́m sự b́nh yên cho ông bằng những du khúc ông viết, th́ cũng đem lại những an ủi, vỗ về cho nguyên một thế hệ của ông. Có thể nói không một nhạc sĩ nào viết nhiều ru khúc như Trịnh Công Sơn. ít ra cũng phải trên hai chục bài. ông ngậm ngùi ru chính ông. ông ru t́nh, ông ru đời. ông ru đời đă mất. ông ru người yêu ngủ trong buổi sớm mùa đông, rồi lại một sớm mùa xuân. ông ru măi, ru hoài. ông ru những tháng âm u, ru những chia xa, những phụ rẫy, ngọt bùi. Những lời tỏ t́nh cũng được lồng vào một điệu ru như trong ca khúc Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng.

    C̣n một cách tỏ t́nh nào hơn bài hát ru đó?

    6

    thân phận con người

    Tuyển tập Những Bài Ca Không Năm Tháng xuất bản cuối năm 1998 là một tập nhạc đồ sộ ở con số bản nhạc được chọn để in. Đó là lần đầu tiên một tập nhạc có con số ca khúc lớn như thế của Trịnh Công Sơn: 127 bản.

    Nhưng đó không phải là tất cả những bản nhạc ông đă viết, đă cho phổ biến và đă được hát lên, được nghe trong cuộc đời sáng tác của ông. Thông thường th́ tác giả nào chẳng muốn in toàn bộ sáng tác của ḿnh, hay ít ra, th́ cũng là tất cả những tác phẩm ưng ư nhất, vào một tập. Trịnh Công Sơn cho biết, trong cuộc đời sáng tác của ông, đă viết trên 500 nhạc phẩm, con số mà những người biết ông đều nghĩ là một con số quá khiêm tốn. Nhưng trong số ấy, ông cũng chỉ chọn 127 bài để in trong tập nhạc này.

    Tuy được sắp xếp theo thứ tự của tự mẫu La Tinh, nhưng t́nh cờ, ca khúc đầu tiên lại là Bên Đời Hiu Quạnh và bản nhạc cuối của tập nhạc là bản Yêu Dấu Tan Theo, và chính tựa của hai ca khúc in ở đầu và cuối tập nhạc cho thấy những suy nghĩ cuối đời của ông về tác phẩm ông muốn để lại.

    Những bản nhạc trong tuyển tập đều không ghi ngày viết và không được xếp theo thứ tự tháng năm sáng tác. Mở tập Những Bài Ca Không Năm Tháng, người ta thấy ngay một điều: đó là sự thiếu vắng của những ca khúc vẫn thường được gắn liền với tên tuổi của ông. Những bản tin của báo chí hay các hăng thông tấn ngoại quốc như The New York Times, The Washington Post, Reuters, AFP, AP... đều nhắc đến ông như một nhạc sĩ phản chiến. Nhưng trong tập nhạc cuối cùng này, người đọc không thấy có bất cứ một bản nhạc gọi là nhạc phản chiến nào. Những ca khúc như Chờ Nh́n Quê Hương Sáng Chói, Ngày Mai Đây B́nh Yên, Ta Đă Thấy Ǵ Trong Đêm Nay, Sao Mắt Mẹ Chưa Vui, Nước Mắt Cho Quê Hương, Ca Dao Mẹ, Người Già Em Bé, Du Mục... đều không có mặt.

    Mà những ca khúc đó, đều là những bài hát không thể không có trong những sinh hoạt của tuổi trẻ Việt Nam trong những năm 60 và 70, những bài hát đóng góp lớn trong việc làm thành tên tuổi ông. Và luôn cả bài Nối Ṿng Tay Lớn, bài hát từ nhiều năm nay luôn luôn đi liền với tên ông. Bài hát được hát lên rất nhiều như ước vọng nối lại sơn hà, nối thành phố với nông thôn, nối người chết linh thiêng vào đời, nối Bắc với Nam nối biển xanh với sông gấm, nối rừng núi với biển xa... Và chính tựa đề của bài hát này, Nối Ṿng Tay Lớn, đă được dùng để đặt tên cho chương tŕnh đưa các sinh viên du học về nước thăm nhà hồi trước năm 1975, rồi cũng chính bài hát này, sau khi được hát lên trên làn sóng điện đài phát thanh Sài G̣n trong ngày đầu tiên khi Cộng sản tiến vào Sài G̣n, đă tạo ra không biết bao nhiêu ngộ nhận cho ông cho đến bây giờ v́ rất ít người biết rơ hoàn cảnh đưa tới việc có tiếng hát của ông trong ngày hôm đó.

    Trịnh Công Sơn không đưa những bài hát này vào tập Những Bài Ca Không Năm Tháng.

    Trong một câu ông viết ở đầu tập nhạc, ông khẳng định : Sống giữa đời này chỉ có thân phận và t́nh yêu. Và những bài ca ông cho in trong tuyển tập chỉ c̣n là những bài hát về t́nh yêu và thân phận.

    Trịnh Công Sơn viết những ca khúc về thân phận hết sức buồn bă. Ngay cả trong những bài hát ông viết về t́nh yêu, ông cũng bầy ra một nỗi buồn chán, tuyệt vọng. Trong suốt những năm trưởng thành của ông, những ǵ xẩy ra trên quê hương mà ông chứng kiến, chỉ là những điều buồn phiền như ông đă kể: "Trên quê hương c̣n lại, ta đi qua nửa đời chưa thấy được ngày vui..." (Những Đôi Mắt Trần Gian).

    Những bạn bè rời xa, những cuộc t́nh bỏ đi, ngày qua đi mỗi ngày một xót xa... "ở cuối chân trời Việt Nam, những tia nắng nghèo nàn và bệnh hoạn từ một mặt trời hết sinh khí sắp đi vào hôn mê."

    Ông đă viết như thế năm 1968 ở đầu tập nhạc Kinh Việt Nam. Trịnh Công Sơn đă sống những ngày vô cùng tuyệt vọng như thế, như trong ca khúc Như Chim Ưu Phiền mà nhịp đi buồn bă của thơ năm chữ c̣n rất rơ trong bản nhạc:

    Tôi như con chim nhỏ
    Bay về rất ngẩn ngơ
    Trên nhân gian chia ĺa
    Ḷng đầy những oán thù

    Tôi như chim xa lạ
    Đứng nh́n những ngày qua
    Trong tim tôi bất ngờ
    Một lời than rất nhỏ

    Tôi như con chim buồn
    Bay về lúc chiều hôm
    Thôi quên đi thiên đường
    Một đời tôi măi t́m

    Tôi như con chim bệnh
    Thiếu hạnh phúc trần gian
    Có những tháng mùa đông
    Ngồi khóc rất âm thầm

    Tôi như chim ưu phiền
    Bay về cuối ḍng sông
    Con sông mang tin buồn
    Nằm chờ những đóa hồng

    Tôi như chim vô vọng
    Linh hồn rất mong manh
    Trong tim tôi có lần
    Một mùa ôi rất lạnh...

    Trịnh Công Sơn lớn lên, nh́n chung quanh chỉ thấy những tin buồn, những tin buồn như ông có lần viết là đă mang "từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người" trong ca khúc Gọi Tên Bốn Mùa.

    Vơ Phiến trong Văn Học Miền Nam Tổng Quan nhận xét Trịnh Công Sơn vừa mới lớn lên cũng thốt lời siêu thoát như một đạo sĩ đầu râu tóc bạc chống gậy trúc dưới một chân núi nào.

    Nhưng thân phận ấy cũng không phải chỉ là của riêng ông, mà là của cả dân tộc và đất nước đau khổ ông đang sống với những ĺa xa, chết chóc, vong thân, tù ngục, đầy đọa triền miên. Đứa bé ra đồng đạp trái ḿn nổ chậm chết không toàn thây, bờ môi như vẫn c̣n thầm hỏi có thiên đường hay không... Trong đời sống như vậy, thế hệ mất tuổi trẻ, không hạnh phúc của ông bỗng t́m thấy một phát ngôn nhân, một tiếng nói nói lên, thay mặt họ, về những bất hạnh của cuộc sống, những hoài nghi ngay cả về những bàn tay cứu rỗi của cả Phật lẫn Chúa như trong bài Này Em Có Nhớ.

    Cùng thời với ông, Thanh Tâm Tuyền kêu lên thảng thốt:

    Sao tuổi trẻ quá buồn,
    Như con mắt giận dữ
    Sao tuổi trẻ quá buồn
    Như bàn ghế không bầy...

    Thân phận buồn bă của tuổi trẻ trong cuộc chiến trở thành một ám ảnh không bao giờ rời Trịnh Công Sơn. ông khóc cho họ, đau cho họ, rồi lại quay về an ủi, vỗ về họ.

    Nhưng c̣n khúc hát nào buồn hơn trong vỗ về an ủi, bảo cho mọi người vui lên mà đau đớn như bài Hăy Cứ Vui Như Mọi Ngày? " Dù ta như con đường dài vắng người... Hăy cứ vui chơi cuộc đời..."

    7

    tiếng réo gọi về với ca dao

    Năm 1967, chiến tranh Việt Nam leo thang lên gần đến điểm cao nhất, số người chết ở cả hai phía đều lên đến những con số làm kinh động lương tri của nhân loại. Việt Nam là một quốc gia đang trên đường tan ră. Tất cả mọi giá trị, mọi truyền thống đều bị đem ra thử thách, để rồi bị gạt sang một bên. Thành thị, nông thôn bốc cháy trong lửa của chiến tranh nồi da xáo thịt khốc liệt. Một thế hệ lớn lên không có được một ngày thanh b́nh, những nét tốt đẹp nhất của dân tộc bị thay thế bằng thù hận, bom đạn, tuyên truyền xảo trá, chiêu bài giả dối. Thế hệ đó như sắp đánh mất quá khứ và căn cước của họ sau bao nhiêu đổi thay, đổ vỡ, quê hương chỉ c̣n là những đống gạch vụn tan nát không thể trở về. Một nền văn minh khác đang đe dọa tiến vào, xóa đi những truyền thống cũ.

    Th́ đúng vào thời gian đó, bài Người Con Gái Việt Nam Da Vàng được hát lên lần đầu tiên ở một hội quán nhỏ ở Sài G̣n của sinh viên.

    Người nghe, cái thế hệ thiệt tḥi và tội nghiệp đó, thế hệ không được biết ḥa b́nh bỗng được chỉ cho thấy cái họ sắp đánh mất. Cuộc sống tốt đẹp cũ trong có một thời gian ngắn, đă trở thành quá xa lạ, như chỉ c̣n lại trong những trang giấy cũ của bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư.

    Trịnh Công Sơn có thể dùng một thể nhạc chậm hơn, không cần phải đầy nét hối hả để viết bài Người Con Gái Việt Nam Da Vàng, nhưng ông chọn một nhịp nhanh hơn để viết ca khúc này. Kết quả là bài ca mang nhiều hối thúc, giục giă hơn. Và có lẽ ít có một ca khúc nào tạo được nhiều xúc động như một câu trong bài, câu: "... Em chưa hát ca dao một lần, em chỉ có con tim căm hờn..."

    Nguyên một thế hệ xa lạ hẳn với ca dao v́ chiến tranh, bom đạn. Ḍng nước ngọt với những lục bát vỗ về t́nh tứ, những an ủi, những tỏ t́nh, những lẳng lơ tuyệt đẹp thế hệ này không biết. Nhiều tiếng nói cất lên để báo động: dân tộc sắp đi tới một hành động phá sản tự sát văn hóa.

    Trịnh Công Sơn, bằng ca khúc Người Con Gái Việt Nam Da Vàng, đă lên tiếng nhắc thế hệ của ông, cái thế hệ đi trong đêm vang ầm tiếng súng, mang trong tim những căm hờn, yêu quê hương nay đă không c̣n, rằng họ chưa được hát ca dao một lần, họ cũng quên mất xưa kia Việt Nam không như Việt Nam mà họ đang phải sống từng ngày.

    Tiếng réo gọi của bài hát thật là khủng khiếp. ông kéo người nghe lại gần, rồi chỉ cho thấy quê hương khốn khổ ấy, nơi những địa danh, những tên thành phố chỉ c̣n là nhắc nhở về những cái chết, là nỗi bất hạnh, là những khổ đau của cả một dân tộc.

    Những h́nh ảnh quê hương đất nước thanh b́nh mà các nhạc sĩ lớp trước vừa vẽ ra được như trong các ca khúc của Nguyễn Văn Khánh, Phạm Đ́nh Chương, Phạm Duy, Lam Phương, Văn Phụng... qua đến Trịnh Công Sơn th́ không c̣n nữa. Những h́nh ảnh của một thời thanh b́nh ấy được thay bằng những cái chết không manh áo, ngoài đồng, trên sông, ḷng đèo, ở Ba Gia, ở Chu Prong, ở Huế, Sài G̣n, Hà Nội... trong T́nh Ca Của Người Mất Trí.

    Trịnh Công Sơn viết về đất nước như một hành động đ̣i lấy quyền để nói, để nhắc nhở cho thế hệ của ông, trước ông và sau ông về một quê hương Việt Nam đang bốc cháy, để báo động trận hỏa hoạn, để hét lên lời cầu cứu... "Hố thẳm đă mở ra dưới chân dân tộc này. Lương tâm con người đang trên đà bị phát măi." ông viết ở đầu cuốn Kinh Việt Nam như thế.

    Ca khúc tiếp theo, Lại Gần Với Nhau là những lời gọi thảm thiết, gọi anh, gọi chị, gọi em, gọi mọi người ngồi lại, ngồi gần lại nhau.

    Trịnh Công Sơn nói với một người bạn rằng ông không thể sống ở ngoài Việt Nam, bất kể đó là một Việt Nam thế nào đi chăng nữa. ông ôm lấy quê hương tơi tả rách nát chờ một ngày đất nước đứng dậy, vực lại quá khứ huy hoàng cũ. Cũng ở tập nhạc in năm 1968, ông viết: "Xin đừng bao giờ làm kẻ phản bội một quá khư hiển linh."

    Trịnh Công Sơn không viết về quê hương thanh b́nh: "Em không biết quê hương thanh b́nh, em chưa thấy xưa kia Việt Nam..." ông viết về quê hương của những ngày sắp tới, khi ba thành phố nắm tay nhau, ba ḍng sông góp thành hội trùng dương. Huế Sài G̣n Hà Nội nói lên ước mơ của những trái tim đau sắp kiệt lực, những chờ đợi cho những con đường nở hoa, cho lá trầu, miếng cau cổ tích trùng phùng. Ước mong đó không thể là của một người, mà của cả một dân tộc bị đầy đọa khốn cùng. Trịnh Công Sơn đă nói lên tất cả những điều đó cho những người anh em của ông, chúng ta.

    8

    nỗi cô đơn giữa đám đông

    Trịnh Công Sơn trong suốt nhiều năm, lúc nào cũng có đông bạn bè ở chung quanh nhưng ông lại là người hết sức cô đơn ở giữa đám đông ấy. ông cứ loay hoay với những mệt mỏi của cuộc chiến tranh măi không t́m ra được lối thoát, trong khi những tiếng động của cuộc chiến vẫn vọng về cắt ngang những đời sống, những tương lai, những cuộc t́nh, những bạn bè, tuổi trẻ của thế hệ cùng thời với ông. Càng nghĩ tới những chuyện đó, ông càng thấy rất nhiều suy nghĩ của ông không được chia xẻ. Nhịp quay của đời sống cuốn theo, nuốt trôi mọi thứ. ông vừa thấy bất lực trước chung quanh nghiệt ngă, vừa cảm thấy lúc nào ông cũng một ḿnh. Chỉ những khi bóng tối che ngang, lúc có những tiếng gọi th́ thầm của trăm năm, như đoạn mở đầu của bài C̣n Có Bao Ngày, ông mới t́m thấy được ở ban đêm, ở bóng tối chỗ ẩn náu, nơi trở về an toàn, tịch lặng nhất với những vỗ về an ủi cho ḿnh. ông nhắc rất nhiều đến những đêm tối, những hoàng hôn, những đêm khuya trong nhạc.

    Đó là những lúc để ông nh́n ngắm lại cuộc đời ḿnh. Đó cũng là lúc ông "đau đớn nhận ra rằng cuộc đời đă cho ta lắm ngày bất hạnh." ông viết như thế ở trang 275 của tuyển tập Những Bài Ca Không Năm Tháng.

    Những suy nghĩ về cuộc đời, về thân phận một người đang đi qua một cuộc chiến thảm khốc với những tư tưởng không ở giữa ḍng nước càng ngày càng đẩy ông ra ngoài đám đông mặc dù ông vẫn đang ở giữa quê hương đau khổ. Sự mỏi mệt hiện rơ trong thái độ chán ca những chuyến đi tưởng để thoát khỏi cái quanh quẩn của cái đường ṿng kín không lối ra.

    Ông không đồng ư và chấp nhận một đời sống tự hủy đang diễn ra chung quanh.

    Ông là người đi lạc trong một thành phố tưởng là quen thân lắm. Nhưng thực ra, Trịnh Công Sơn không thuộc vào một nơi nào hết. ông cứ đứng ở bên ngoài, tự chọn cho thế đứng không nhập cuộc, hai vai hai vầng nhật nguyệt, thư thái trên con đường chỉ một ḿnh đi.

    Trong Một Cơi Đi Về, câu: "... Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ. Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà..." chỉ một câu này, cũng đủ để bầy ra tất cả sự cô đơn khủng khiếp ông phải đối mặt mỗi ngày trong đời sống rất nhiều tiếng động.

    Thái độ cô đơn đứng ngoài một ḿnh không tham dự và nhập cuộc của Trịnh Công Sơn c̣n được thấy rơ hơn trong bài Tự T́nh Khúc. ông thấy ḿnh là đứa bé ngồi nh́n thế kỷ qua đi, vẫn không thấy được nơi nương tựa, vẫn cứ chỉ là ngọn đèn nhỏ thắp lên cho riêng ḿnh. Bài ballad viết về sự cô đơn ấy đầy những h́nh ảnh xót xa hết sức bi thảm và cảm động. Trên cái vực thẳm ngó xuống ḷng sâu của cô đơn, ông ngồi một ḿnh.

    Căn bản, các sáng tác của Trịnh Công Sơn là nhạc t́nh. Bài T́nh Xa là một ca khúc ông viết cùng thời gian với T́nh Nhớ và T́nh Sầu để thành một trilogy trong giai đoạn sáng tác đầu tiên của ông. Và trong T́nh Xa, sóng được cho dội vào đời buốt giá, gió cát phù du bay về để nói về nỗi cô đơn của ông. ông dùng hơn một t́nh khúc để nói về sự cô đơn đó. Và t́nh yêu, tưởng là điều đem lại những vỗ về an ủi cho ông, th́ cũng lại phản bội, lọc lừa. Những ḍng sông trở thành biểu tượng của chuyến bỏ đi, cơn mưa thành lời hẹn thề, thành phố hoang vu khi cuộc t́nh đi qua, t́nh cúi đầu trong tiếng buồn rơi đều.

    Sự cô đơn đă là một cơn đau suốt đời của Trịnh Công Sơn. Nhưng chính ông đă lựa chọn để sống với nó.

    Cũng như Socrates, ông thà sống khốn khổ c̣n hơn.

    9

    những để lại

    Nhiều so sánh đă được đưa ra để tạo ấn tượng về một sự việc ít ai biết với một sự việc đă quen thuộc với nhiều người. Thí dụ khi nói nhà văn X là một Solzhenitsyn của văn chương Pháp, họa sĩ Y là một Cezanne của hội họa ư, nhà thơ Z là Đỗ Phủ của thi ca Đại Hàn... th́ người nghe có ngay một số khái niệm về các ông XYZ ngay. Nhưng cũng rất nhiều khi những so sánh này lại là những bất công đáng kể với những tiêu chuẩn được đem ra dùng để so sánh. Các ông Solzhenitsyn, Cezanne, Đỗ Phủ lớn hơn các ông XYZ chẳng hạn.

    Và cũng có những trường hợp ngược lại.

    Joan Baez, một nữ ca sĩ nhạc dân ca – folk singer – của nhạc Mỹ, khi được giới thiệu với Trịnh Công Sơn, đă đưa ra một so sánh lập tức: Trịnh Công Sơn là Bob Dylan của Việt Nam.

    Việc Joan Baez làm cũng dễ hiểu: cô tạo được sự nghiệp ca hát phần lớn là nhờ nhạc của Bob Dylan, những ca khúc chống chiến tranh của người nhạc sĩ này. Nhưng cô chưa biết được đủ về Trịnh Công Sơn. Nguyên số lượng ca khúc mà Trịnh Công Sơn viết đă nhiều hơn số ca khúc của Bob Dylan. Mà đó mới chỉ nói về số lượng sáng tác.

    Như vậy sự so sánh có bất công cho Trịnh Công Sơn. Bob Dylan viết một số nhạc phản chiến – anti war songs – và phản kháng – protest songs – cùng một số đề tài khác. Trịnh Công Sơn viết nhạc phản chiến, phản kháng, nhưng chủ yếu là t́nh ca, những đề tài khác là quê hương, thân phận con người, trong đó, triết lư và tôn giáo là những nét nổi bật. Bài nổi tiếng nhất của Bob Dylan là ca khúc Blowin' In The Wind, bài hát nói về chiến tranh, bom đạn, chết chóc, ước mơ ḥa b́nh được coi như bài hát đầu môi của các phong trào phản chiến hồi thập niên 60. Nhưng Blowin' In The Wind vẫn chưa tới được mức bi thảm của các ca khúc Chính Chúng Ta Phải Nói, Người Già Em Bé, Nước Mắt Cho Quê Hương hay Đại Bác Ru Đêm.

    Pete Seeger là một nhạc sĩ dân ca hàng đầu của Mỹ. ông cũng viết nhiều ca khúc chống chiến tranh, và một trong những bài nổi tiếng của ông được hát rất nhiều trong những sinh hoạt chống chiến tranh của thập niên 60 là bài Where Have All The Flowers Gone. Pete Seeger lớn tuổi hơn Trịnh Công Sơn và Bob Dylan nên không được đem ra so sánh. Nhưng cùng những ư tưởng và h́nh ảnh th́ Where Have All The Flowers Gone chưa bi thảm bằng Người Con Gái Việt Nam Da Vàng hay T́nh Ca Người Mất Trí.

    Pete Seeger cũng viết về nước Mỹ, This Land Is Your Land, nhưng ḷng yêu thương đất nước: Đất này là đất của anh, đất này là đất của tôi, từ rừng hồng mộc miền tây đến biển đầy bọt trắng miền đông, đất này được tạo ra cho chúng ta... không thể cảm động như Huế Sài G̣n Hà Nội của Trịnh Công Sơn. Huế Sài G̣n Hà Nội có tiếng hối thúc, réo gọi, hừng hực...

    Trịnh Công Sơn viết t́nh ca nhiều hơn Burt Bucharach mặc dù số lượng mà tác giả của í'll Never Fall In Love Again, của Raindrops Keep Falling On My Head, Alfie, Anyone Who Had A Heart cũng đă nhiều. Nhiều nhưng chưa thể vượt quá con số 127 bài mà Trịnh Công Sơn chọn để in trong tuyển tập Những Ca Khúc Không Ngày Tháng sau khi đă bỏ ra ngoài một số rất lớn những ca khúc viết về các đề tài khác của ông.

    Một đóa quỳnh không bao nhiêu người biết, qua những khuông nhạc của Trịnh Công Sơn, nó biến thành một lời tỏ t́nh. Những bước chân trở về của người phụ nữ không may mắn, làm công việc rất bất hạnh của xă hội đă thành một t́nh khúc bi thảm, bài Nghe Những Tàn Phai.

    Những chi tiết vừa kể cho thấy đem những tên tuổi khác để so sánh với Trịnh Công Sơn là một việc vừa sai lầm vừa bất công.

    Có một chi tiết nhỏ về những ca khúc của Trịnh Công Sơn, đó là với một số lượng sáng tác lớn như thế và được phổ biến rộng răi như thế, chỉ có một hay hai bài, có phần chắc là không quá hai bài, bị đem ra đặt cho những lời ca khác nhảm nhí.

    Đó có phải là một thái độ yêu mến trong khi vẫn c̣n dành cho tác giả rất nhiều tôn trọng của những người yêu nhạc, sống cùng thời với ông không?

    Chúng tôi nghĩ là có.

    10

    như một lời chia tay

    ở tuổi hai mươi mấy, ít người viết những lời ca như trong bài Cát Bụi. Và cũng không nhiều người viết di chúc hay những chữ khắc trên mộ bia cho ḿnh ở cái tuổi ấy. ít người nghĩ đến cái chết, đến sự trở về với những hạt cát, những hạt bụi của nguyên thủy.

    Trịnh Công Sơn đă làm công việc ấy một cách quá sớm. ông viết Cát Bụi năm ông chưa tới 30 tuổi, như thể ông nh́n thấy sự ra đi ngay trong sự sống qua những hạt bụi. ... Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi... ôi cát bụi phận này, vết mực nào xóa bỏ không hay...

    Rồi vài chục năm sau, ông lại viết: "... trong xuân th́ thấy bóng trăm năm..." ông luôn luôn nh́n thấy cái chết ở sự sống, trong hạnh phúc có bất hạnh, trong hôm nay có ngày mai, "dưới ṿng nôi mọc từng nấm mộ, dưới chân ngày cỏ xót xa đưa. "

    Có lẽ những năm chiến tranh, sự ra đi quá sớm của người cha, những bất trắc của đời sống làm ông luôn luôn được ồ và cũng như bị ồ nhắc nhở và ám ảnh về cái chết.

    Cuối năm 1992, trong những ḍng viết ở cuối tập nhạc Những Bài Ca Không Năm Tháng Trịnh Công Sơn viết: "mỗi ngày sống tới, mỗi ngày tôi thấy đời sống nhỏ nhắn thêm... Đời sống thật sự không tiềm ẩn điều ǵ mới lạ. Có lẽ v́ thế, sự quen mặt mỗi lúc mỗi gần gũi, thắm thiết hơn, nên tôi càng thấy yêu mến cuộc đời."

    Đó lại là những điều viết xuống của một người nói rất nhiều đến cái chết. Thực sự, ông là người rất yêu đời sống như lời ca của bài Hăy Cứ Vui Như Mọi Ngày. Thí dụ:

    ...Hăy cứ vui như mọi ngày
    Bên trời c̣n nắng
    Lá trời c̣n xanh
    phố c̣n người đông...

    Rồi ông lại viết Hăy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người trong Để Gió Cuốn Đi, một bài hát đọc thấy tấm ḷng của ông với đời sống bằng nhịp 3/4 thư thả mà thiết tha.

    Có lúc ông quay ra đùa cợt với cuộc đời, mà ông coi chỉ là nơi ông ở trọ. Mượn chút hơi dân ca, ông nhờ không khí lục bát trong ca dao để viết bài ở Trọ bằng nhịp 2/4 vừa lẳng lơ vừa lư lắc những bước nhún nhẩy. Coi mọi thứ t́nh yêu, cuộc sống chỉ là vô thường, lúc có lúc không. Toàn bài nghe như những công án Thiền. Bài ca lời lẽ giản dị, có lúc tươi tắn lạ thường, lại là những tư tưởng rất Phật giáo, được kéo xuống gần gũi hơn nhờ những í a của dân ca miền Bắc.

    Trịnh Công Sơn viết nhạc cho người khác hát. ông ít khi hát nhạc của ḿnh trước đám đông mặc dù ông có giọng tốt. Thêm nữa, là người viết những ca khúc ấy, ông hát chắc phải rất chính xác. Bài Như Một Lời Chia Tay đă được thu thanh bởi ít nhất là hai giọng hát mà ông rất tin cậy. Nhưng ca khúc này, hát lên bằng giọng của ông, lại mang một nét khác nữa. ông hát mà như gửi lại những điều đă đi qua đời ông cho người nghe, như đóng lại trang cuối cùng của cuốn sách. Lời ca của bài Như Một Lời Chia Tay đọc lên, không cần phải nghe ông hát cũng đủ tạo xúc động. ông xếp lại đời sống, ông cám ơn cuộc đời, ông nh́n lại những cuộc t́nh, ông nhớ lại bông hoa mỏng manh cuối trời, coi đó như một lời giă biệt. ư của lời ca th́ bi đát, nhưng nghe qua giọng của ông, người nghe thấy đươc sự b́nh thản của ông khi từ biệt cuộc sống.

    Trịnh Công Sơn đă về với cát bụi, giă từ nơi ông ở trọ. ông biết trước chuyến đi về nơi vĩnh hằng. Nhưng ông cũng sẽ c̣n ở lại với chúng ta măi măi. Chúng ta măi măi nhớ ông, biết ơn ông, biết ơn ông đă nói hộ chúng ta những điều khó nói nhất, biết ơn ông đă vỗ về an ủi cuộc đời chúng ta trong những lúc hân hoan hạnh phúc cũng như những lúc sầu thảm bất hạnh.

    Ba trăm năm nữa sẽ c̣n người hát và nghe những ǵ ông để lại.

    Đó là món quà âm nhạc ông để lại. Đó là một món quà mà thỉnh thoảng lắm, có khi là vài trăm năm Việt Nam mới được một món quà quí giá như thế.

    Cám ơn Trịnh Công Sơn.

    BÙI BẢO TRÚC

    1 tháng Tư - 12 tháng Tư, năm 2001