trang chính tiểu sử tranh ảnh nhạc tập nhạc bút tích tưởng nhớ english
TRỊNH CÔNG SƠN (02/28/1939 - 04/01/2001)
  
Tưởng Nhớ


Hợp Lưu số 59 tháng 6 & 7, 2001, Trịnh Công Sơn, Một Cơi Đi Về
Văn Học số 186 & 187 tháng 10 & 11, 2001. Trịnh Công Sơn, T́nh Yêu, Quê Hương, Thân Phận
Hoàng Xuân Sơn
Nguyễn Văn Tuấn

Văn số 53 & 54 Tháng 5 & 6, 2001

  • Nguyễn Xuân Hoàng SỔ TAY THÁNG NĂM 4
  • Đặng Tiến TRỊNH CÔNG SƠN ĐỜI VÀ NHẠC 9
  • Nguyễn Văn Tuấn VĨNH BIỆT THI SĨ DU CA TRỊNH CÔNG SƠN 24
  • Phạm Duy NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN T̀NH YÊU VÀ THÂN PHẬN 31
  • Phạm Duy LŨ CHÚNG TÔI, KHI NHẬP CUỘC, KHI XUẤT THẾ 33
  • Tô Thùy Yên MỖI CA KHÚC NHƯ MỘT LỜI TRĂN TRỐI 37
  • Tô Thùy Yên NGƯỜI DU CA CHÍNH HIỆU 39
  • Văn Cao TRỊNH CÔNG SƠN: NGƯỜI CA THƠ 40
  • Luân Hoán THÊM MỘT TIN BUỒN 42
  • Bùi Bảo Trúc VỀ TRỊNH CÔNG SƠN 43
  • Nam Dao TRỊNH CÔNG SƠN NHƯ CÁNH VẠC BAY 63
  • Đinh Cường GỞI SƠN, NHỮNG ĐOẠN GHI RỜI CỦA NGƯỜI BẠN Ở XA 70
  • Nguyễn văn Thọ NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN 73
  • Bủu Chỉ 76
  • Trịnh Cung BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN 77
  • Nguyễn Quốc Trụ NHỮNG NGÀY TRỊNH CÔNG SƠN 84
  • Nguyễn Đăng Thường THIÊN TÀI VÀ THIÊN TAI 86
  • Đặng Mai Lan TRỊNH CÔNG SƠN TRONG TÔI, TỪ ĐÓ 88
  • Vũ Thư Hiên THƯƠNG NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN 91
  • Thượng Văn ÂM NHẠC VÀ CHÍNH TRỊ 94
  • Hoàng Xuân Sơn BÀI CA NHỮNG TẾ BÀO 96
  • Nguyễn Trọng Khôi MỘT PHIẾN TÀI T̀NH 100
  • Trần Kiêm Đoàn TRỊNH CÔNG SƠN NH̀N TỪ MỘT HUẾ XƯA 106
  • Ngọc TRỊNH CÔNG SƠN, MỘT CƠI ĐI VỀ 111
  • Đinh Trường Chinh TRỊNH CÔNG SƠN CON TINH YÊU THƯƠNG 113
  • John Schafer CHÚT L̉NG VỚI TRỊNH CÔNG SƠN 116
  • Trường Kỳ KHÁNH LY: NHỮNG LỜI TỬ TẾ ÔNG SƠN DẬY TÔI 118
  • Mai Thy TRỊNH CÔNG SƠN TÔI LUÔN LUÔN SỐNG VỚI HIỆN TẠI 125
  • Thanh Tùng ANH ĐĂ VẮT CẠN T̀NH YÊU CHO ĐỜI 126
  • Nguyễn Trọng Tạo VĨNH BIỆT ĐỜI VỀ CƠI THÊNH THANG 128
  • Từ Huy CHẠM ĐẾN TRỊNH CÔNG SƠN 129
  • Lê Minh Quốc RƠI LỆ RU NGƯỜI 130
  • Nguyễn Đăng Thường H̀NH TRỊNH CÔNG SƠN 132


    ° Trịnh Công Sơn Bút tích - Kư - Truyện Ngắn 133
  • Trịnh Công Sơn BÚT TÍCH TRỊNH CÔNG SƠN 133
  • Trịnh Công Sơn TRỊNH CÔNG SƠN NGHĨ VỀ KHÁNH LY / VĨNH TRINH / HỒNG NHUNG (1995) 134
  • Trịnh Công Sơn NỖI L̉NG CỦA TÊN TUYỆT VỌNG 135
  • Trịnh Công Sơn TÔI ĐĂ MƠ THẤY CHUYẾN ĐI CỦA M̀NH 137
  • Trịnh Công Sơn ĐỂ BẮT ĐẦU MỘT HỒI ỨC 138
  • Trịnh Công Sơn DIỄM CỦA NHỮNG NGÀY XƯA 139
  • Trịnh Công Sơn CUỘC SỐNG KHÔNG THỂ THIẾU T̀NH YÊU 141
  • Trịnh Công Sơn PHÁC THẢO CHÂN DUNG TÔI 142
  • Trịnh Công Sơn BÀI HÁT ĐẦU TIÊN BÀI HÁT CUỐI CÙNG 143
  • Trịnh Công HỒI ỨC VỀ NHẠC PHẨM ... HẠ TRẮNG 145
  • Trịnh Công Sơn CA KHÚC MANG ĐẾN SỰ CẢM THÔNG GIỮA MỌI NGƯỜI 146
  • Trịnh Công Sơn CHÚ LỘ 152
  • TRỊNH CÔNG SƠN ĐỜI VÀ NHẠC


    Đặng Tiến

    Trịnh Công Sơn chánh quán Huế, làng Minh Hương, tổ tiên gốc Trung Hoa. Làng Minh Hương nay sát nhập vào Bao Vinh thành xă Hương Vinh. Bao Vinh là thương cảng của Huế ngày xưa.

    Anh sinh ngày 28 tháng Hai năm 1939, tại Lạc Giao, tỉnh Đắc Lắc, lớn lên trong một gia đ́nh buôn bán giữa trung tâm thành phố Huế. Nhà đông anh chị em, ba trai năm gái, mà anh là con trưởng. Tuy có thăng trầm, nhưng nói chung là khá giả.

    Trịnh Công Sơn theo học chương tŕnh Pháp, tại Trung học Pháp tại Huế, đến hết cấp hai. Năm ấy, 1955, cùng lớp có ca sĩ Kim Tước (Giáo sư Decoux, dạy khoa học, thỉnh thoảng mang đàn vĩ cầm vào lớp, đàn đệm cho học sinh hát). Lúc này Trịnh Công Sơn chơi guitare đă hay. Trường giải thể, dời vào Đà Nẵng, Trịnh Công Sơn có lúc theo học trường Thiên Hựu, Providence ở Huế. Rồi chuyển vào Sài G̣n, học tại trường Jean Jacques Rousseau. Sau đó vào học trường Sư Phạm Quy Nhơn, rồi đi dạy học vài năm tại Lâm Đồng.

    Anh tự học nhạc một ḿnh, và đă kể lại:

    "Thuở ấy, tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitare đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính ḿnh hát.

    Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ ḿnh đă viết những ca khúc đầu tiên từ những đ̣i hỏi tự nhiên của t́nh cảm thôi thúc bên trong... Đó là những năm 56 - 57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành nhạc sĩ... Dạo ấy ba tôi đă mất..." 1

    Những câu hỏi người ṭ ṃ có thể đặt ra: một người chỉ học trường Pháp, giáo tŕnh Việt ngữ rất hạn chế và lỏng lẻo, khi đặt lời ca, sao có thể sử dụng tiếng Việt điêu luyện đến như thế? Thỉnh thoảng anh viết truyện ngắn, tham luận, đều xuất sắc. Bạn bè nhận được thư riêng, đều nhớ rằng Sơn chữ đẹp văn hay.

    Tự học đàn hát, rồi sáng tác một ḿnh, Trịnh Công Sơn không thuộc một nhóm sáng tác nào, như những người đi trước, như Lê Thương, Hoàng Quư trong nhóm Đồng Vọng ở Hải Pḥng, như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước trong nhóm Myosotis tại Hà Nội, nhóm Hoàng Mai Lưu tại Nam Bộ. Cũng như sau này, anh sẽ tự học vẽ một ḿnh.

    Câu hỏi ṭ ṃ thứ hai: tự học nhạc, rồi từ rất sớm đă lao ḿnh vào đời sống sáng tác và tranh đấu, làm sao anh có thể liên tục sáng tác khoảng 800 ca khúc, phần lớn được yêu chuộng?

    Nói rằng Trịnh Công Sơn là thiên tài, cũng dễ thôi. Nhưng trở thành thiên tài trên một đất nước như Việt Nam, được thừa nhận là thiên tài trong một xă hội như Việt Nam - nhất là sau cuộc đổi đời 1975 - thật không đơn giản.

    Mục đích của bài này là giải thích sự h́nh thành của thiên tài Trịnh Công Sơn, giải mă hiện tượng Trịnh Công Sơn và t́m hiểu vị trí của Trịnh Công Sơn trên những trầm luân của đất nước, chủ yếu là khúc quanh 1975.

    Chúng tôi cũng muốn cung cấp cho các nhà nghiên cứu về sau một số tư liệu rải rác đây đó, e mai đây khó kiếm, khi những than khóc và tung hô đă lắng xuống.

    Về hoàn cảnh sáng tác ban đầu, Trịnh Công Sơn đă tuyên bố với Vĩnh Xương, báo Đất Việt, năm 1985: "Đến năm 1957, tôi sáng tác, gọi là để bạn bè nghe chơi. Sau đó thấy có hứng thú sáng tác và thử viết thêm một số bài. Năm 1959, tôi viết bài œớt Mi và được bạn bè khích lệ. Tôi mới t́m sách nghiên cứu thêm về nhạc, trao đổi thêm về nhạc lư với bạn bè. Sau đó, tôi phổ nhạc cho khoảng một chục bài thơ t́nh yêu (như Nh́n Những Mùa Thu Đi chẳng hạn). Năm 63, tôi có một số sáng tác khá thành công như Diễm Xưa, Biển Nhớ, Hạ Trắng. Từ đó, tôi đi vào con đường sáng tác." 2

    Và từ đó, Trịnh Công Sơn nổi tiếng.

    Khi đặt câu hỏi: sao một thanh niên, rất trẻ, chỉ học "trường Tây" mà sử dụng tiếng Việt tài hoa đến vậy, tôi không có thành kiến - v́ bản thân ḿnh cũng chỉ học "trường Tây" - mà để t́m hiểu nguồn sáng tạo trong ngôn ngữ.

    Trịnh Công Sơn, có lẽ - đây là giả thuyết dè dặt - không học nhiều văn chương Việt Nam được giảng dạy ở nhà trường thời đó, nên không bị nô lệ vào những khuôn sáo trường quy, không suy nghĩ bằng điển cố sẵn có, mà tạo được một h́nh thức mới cho lời ca. Lời ca ấy sử dụng nhiều h́nh ảnh, biểu tượng bị xé lẻ, đi thẳng vào tâm tưởng người nghe, mà không đ̣i hỏi họ phải hiểu nghĩa chính xác. Ví dụ bài T́nh Sầu:

    T́nh xa như trời / T́nh gần như khói mây /
    T́nh trầm như bóng cây / T́nh reo vui trong nắng /
    T́nh buồn làm cơn say
    ... Cuộc t́nh lên cao vút / Như chim mỏi cánh rồi / Như chim xa ĺa bầy / Như chim bỏ đường bay /

    Mạch lạc nội tại (cohérence organique) của ca khúc không dựa vào tương quan ư nghĩa: "t́nh xa như trời" th́ hợp lư, nhưng gần, sao lại như "khói mây"? "T́nh lên cao vút", sao lại "như chim mỏi cánh rồi"? "T́nh reo vui trong nắng", th́ phải đối ngẫu với "t́nh buồn cơn mưa bay" mới chỉnh, sao lại say sưa vào đây?

    Thật ra, mạch lạc nội tại được cấu trúc trên h́nh thức ngôn ngữ: những từ lặp lại: t́nh, chim, như, những vần luyến láy: mây, cây, say, bay, những từ đối lập: xa/gần, vui/buồn. H́nh ảnh nối tiếp nhau, không cần ăn khớp với lư luận, lại được tiết điệu, âm giai nâng đỡ, bay bổng, bay thẳng vào tâm tưởng người nghe.

    Chúng ta thử so sánh, để t́m hiểu chứ không phân định hơn thua, một lời nhạc tương tợ của Đoàn Chuẩn-Từ Linh:

    Gửi gió cho mây ngàn bay
    Gửi bướm muôn màu về hoa
    Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
    Về đây với thu trần gian...

    Hai ca khúc na ná, v́ đều là ẩn dụ xâu chuỗi (métaphore filée), nhưng câu sau của Đoàn Chuẩn và Từ Linh được cấu tứ theo ngữ nghĩa và quy ước, theo điển cố: gió+mây, bướm+hoa, gió+trăng, trăng+thu. Nét mới là màu xanh lá thư bị xoá nhoè giữa những ước lệ được liên kết thành một xâu chuỗi kiên cố, chặt chẽ quá làm mất chất thơ. Thêm vào đó là những câu thất ngôn đường luật rất chỉnh chu:

    Lá vàng từng cánh / rơi từng cánh
    Rơi xuống âm thầm / trên đất xưa

    Bài Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay rất hay, nhưng hay một cách khác, đựơc yêu chuộng ở một giới thính giả khác.

    Phạm Duy, thời trẻ, đă có những sáng tạo tân kỳ:

    Buồm về dội nắng đôi vai
    Bao nhiêu màu hoa ngát trên đôi môi
    (Tiếng Đàn Tôi, 1947)

    Sau đó, anh trở về với ngôn ngữ duy lư:

    Bao giờ em giở lại vườn dâu (hỡi em)

    Là một câu thơ tuyệt vời: vườn dâu là niềm thương nhớ muôn trùng một nền văn minh đă khuất bóng. Nhưng Phạm Duy lại bồi thêm câu sau:

    Để anh bắc gỗ xây nhịp cầu (anh) bước sang...
    (Quê Nghèo, 1948)

    Th́ cái ư đă thu hẹp cái tứ. Câu hát trở thành thô thiển, và giới hạn âm vang. (Tôi đă có dịp tŕnh lên anh Phạm Duy ư này, anh cười vui: thế à?)

    Tác phẩm Lê Thương uyên bác cả nhạc lẫn lời, đă đựơc người đời yêu thích. Trịnh Công Sơn sẽ không viết được những câu văn vẻ như Lê Thương:

    Bên Man Khê c̣n tung gió bụi mịt mùng,
    Bên Tiêu Tương c̣n thương tiếc nơi ngàn trùng...
    (Ḥn Vọng Phu)

    nhưng đă viết:

    Đàn ḅ vào thành phố
    Reo buồn tiếng hạt chuông
    (...)
    Đàn ḅ t́m ḍng sông
    Nhưng ḍng nước cạn khô
    Đàn ḅ bỗng thấy buồn,
    bỗng thấy buồn...
    (Du Mục)

    Những h́nh ảnh ngoài trí tưởng tượng của Lê Thương - ông vua đặt lời ca - theo sự đánh giá của Phạm Duy.

    Đi vào nền tân nhạc với một tâm hồn mới mẻ, Trịnh Công Sơn đă dần dần xây dựng một nhạc ngữ mới, phá vỡ những khuôn sáo của nền âm nhạc cải cách, thành h́nh chỉ hai mươi năm về trước.

    Trịnh Công Sơn tự học nhạc, chứ không được đào tạo theo hệ thống trường quy. Khi bắt đầu sáng tác, được khích lệ, mới "trao đổi nhạc lư với bạn bè", anh không nói rơ là những ai.

    Câu hỏi thứ hai người ṭ ṃ đặt ra là: học nhạc một ḿnh, th́ vốn liếng nhạc thuật lấy đâu ra mà sáng tác nhiều, nhanh và hay như thế?

    Nhiều người cho là tác phẩm anh đơn giản về mặt nhạc thuật, nói là nghèo nàn cũng được.

    Văn Cao nhận xét: "Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển, theo cấu trúc bác học phương tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra."3

    Lối nhạc hồn nhiên, dung dị này lại đáp ứng lại với nhu cầu thời đại, theo Phạm Duy:

    "Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối v́ nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại."

    Một thính giả b́nh thường, yêu quư Trịnh Công Sơn, đă viết sau khi anh qua đời: "Xét cho cùng, Trịnh Công Sơn là một nhà thơ. Một nhà thơ lớn. Nhạc là cái xe tải anh lắp lấy để chở thơ anh đến với chúng ta." (Vũ Thư Hiên, Varsovie, 4/2001). Nhận xét không đúng nhưng tiêu biểu.

    Dù cho rằng nhạc thuật đơn điệu, th́ cũng phải thừa nhận tài năng, có phần học tập, có phần thiên phú. Hoa hồng đẹp là do cây hồng, nhưng cũng c̣n nhờ vào đất đai, phân tro, mưa nắng, người chăm sóc, thậm chí cần cả người ngắm, hoa hồng mới có giá trị cái đẹp hoa hồng. Dù ở đây chỉ là một đoá vô thường.

    Ta thử nhớ lại thời đại phát sinh tài năng Trịnh Công Sơn.

    Năm anh 15 tuổi, 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, cả hai miền Nam Bắc đều hoá thân trong hoàn cảnh chính trị và văn hóa mới.

    ở miền Nam, văn hoá phương Tây tràn ngập thị trường, nhất định phải ảnh hưởng mạnh mẽ đến tuổi mười lăm.

    Sách báo, đĩa nhạc Pháp du nhập ồ ạt vào Việt Nam hằng ngày, giá thực tế rẻ hơn tại Paris nhờ trợ cấp hối đoái, và đây lại là thời kỳ phát minh và phát triển của loại sách bỏ túi và đĩa hát rảnh mịn (microsillon), phát hành rộng răi, kèm theo những phương tiện truyền thanh mới. Thời trước, tuy Việt Nam là thuộc địa Pháp, nhưng văn chương Pháp chỉ du nhập qua nhà trường, giáo tŕnh dừng lại ở cuối thế kỷ XIX: uyên bác như Xuân Diệu mà không biết Apollinaire. Sau 1954, văn hoá Pháp - và phương Tây - du nhập thẳng vào thị trường. Công chúng đọc Franơoise Sagan tại Sài G̣n cùng lúc với Paris. Trên hè phố, nhất là tại các quán cà phê, người ta bàn luận về Malraux, Camus, cả về Faulkner, Gorki, Husserl, Heiddeger.

    Nhà văn Bửu ư, bạn Trịnh Công Sơn - học trước Sơn hai lớp tại Lycée Franơais Huế - hát Lá Rụng, (Les Feuilles Mortes), một lần với Juliette Gréco; Đời Hồng Tươi, (La Vie en Rose) một lần với Edith Piaff, Barbara một lần với Yves Montand; trong khi Thanh Tâm Tuyền dịch Barbara của Jacques Prévert, đăng trên Sáng Tạo và Nguyễn Trần Kiềm, bạn cùng lớp với Sơn, đi cyclo che nắng bằng sách của Sartre.

    Người ta thắc mắc về những tên ca khúc Trịnh Công Sơn cầu kỳ như Mưa Hồng, Tuổi Đá Buồn, trong khi Thanh Tâm Tuyền viết Đêm Màu Hồng, về sau trở thành pḥng trà lừng danh, lại viết thêm Lệ Đá Xanh, được danh hoạ Đinh Cường, bạn thân Trịnh Công Sơn, vẽ thành tranh trừu tượng, v...v... .

    Song hành với sách báo, các cơ quan văn hoá tây phương mở cửa hoạt động: Pḥng Thông Tin Hoa Kỳ, Pháp, Trung Tâm văn hoá Đức... dĩ nhiên là với những động cơ chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà chúng tôi không đề cập ở đây, chỉ nhấn mạnh ở ảnh hưởng văn hoá phương Tây thời đó trên đời sống trí thức miền Nam. Những Chiều Chủ Nhật Buồn nằm trong căn gác đ́u hiu.. ô hay ḿnh vẫn cô liêu, rồi đến Ngày Chủ Nhật buồn c̣n ai, c̣n ai:...Tuổi buồn Em mang đi trong hư vô, ngày qua hững hờ... Không thể không nhắc đến bài Chủ Nhật Buồn, Sombre Dimanche của Seress Rejso, nghe nói đă có người tự tử v́ nó. Hay v́ những hư vô, cô liêu, hững hờ, thịnh hành một thời. Trong bài viết "Nỗi ḷng của tên Tuyệt Vọng" anh đă tiết lộ "tôi vốn thích triết học và v́ thế, tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của ḿnh." Ví dụ như: Vết lăn trầm hằn lên phiến đá mà anh gọi là di thạch: roche errante, người hát không hiểu ǵ, nhưng vẫn thích hát! Nhưng nói là Rolling Stones cũng không sai.

    Ca khúc Trịnh Công Sơn gợi suy tư, đáp ứng lại nhu cầu trí thức chính đáng ở một thiểu số và ảo tưởng trí thức thời thượng ở một đa số, trong đó có các cô cậu, ở mục T́m Bạn Bốn Phương trên các báo, tự giới thiệu là "yêu màu tím" và "nhạc họ Trịnh", hay "nhạc TCS" viết tắt.

    Thời kỳ này, Nguyễn văn Trung đă viết bài ảo ảnh Thanh Thuư. Nói về ảo ảnh Trịnh Công Sơn, ông ấy cũng có thể viết một bài hay.

    Nhạc Trịnh Công Sơn đơn giản: một nhược điểm tạo dựng thành công. Phạm Duy nhận xét về Trịnh Công Sơn "Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hoà âm phối khí rườm rà th́ không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này." 4 Lại là một yêu cầu khác của thời đại: những Georges Brassens, Joan Baez lẫy lừng với cây đàn ghi-ta. Ca khúc Trịnh Công Sơn, có thể hát cho vài người nghe, cho một nhóm, hay trước quảng đại quần chúng. Nó đi vào quần chúng, nhất là giới thanh niên: Nó khác với nhạc pḥng trà, có giàn nhạc và do ca sĩ hát, và thính giả đi nghe (và nh́n) ca sĩ nhiều hơn là nghe ca khúc.

    Thời Trịnh Công Sơn cũng là thời của các tác-gia-soạn-giả-tŕnh-diễn (auteur compositeur interprète) chẳng bao năm mà trở thành huyền hoại: Jacques Brel, Bob Dylan. Báo chí Mỹ gọi Trịnh Công Sơn là Bob Dylan Việt Nam, v́ nội dung phản chiến, mà c̣n v́ phong cách tŕnh diễn.

    Nhạc Trịnh Công Sơn không phải là nhạc giao hưởng. Những soạn giả bậc thầy của nhạc lư Việt Nam thời đó, như Vũ Thành, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi không có quần chúng.

    Trịnh Công Sơn có tài đặt nhạc, soạn lời, lại biết bắt mạch thời đại, sống đúng thế hệ của ḿnh, trong ḷng đất nước, trong nhạc cảnh thế giới. Ngần ấy cái tài dồn lại, gọi là thiên tài, cũng không quá đáng.

    Phân chất những lớp phù sa đă tấp vào ḍng nhạc của ḿnh qua những giao lưu văn hoá, Trịnh Công Sơn có nói đến những ảnh hưởng ngoại lai: "Thưở nhỏ tôi rất thích nhạc tiền chiến và có nghe một số nhạc nước ngoài. Những năm 60, tôi có nghe nhạc Blues nói về thân phận của người da đen ở Mỹ. Tôi rất thích nhạc của Louis Amstrong, D. Ellington... Tôi thấy loại nhạc này gần gũi với ḿnh và thấy có khả năng muốn lấy nhạc này để nói lên tâm sự của ḿnh." 5

    Và cũng trên số báo Đất Việt đó, anh cho biết thêm về ảnh hưởng: "Những năm 64-66, sáng tác có chất Blues, những năm 67-72, lại mang nhiều chất dân ca."

    "Chất dân ca" ở đây, phải hiểu theo nghĩa folk songs của Bob Dylan và Joan Baez thịnh hành thời đó. Cả hai danh ca đều hơn Sơn hai tuổi, cùng một thế hệ, cùng một lư tưởng chống chiến tranh, cùng một cây ghi-ta, cùng một điệu hát; "Dân ca" ở đây không phải là ḥ mái nh́, ḥ giă gạo của quê hương. Nhạc dân tộc dường như không mấy ảnh hưởng đến anh. Những bài theo chủ đề ru con của Trịnh Công Sơn không mấy âm hưởng những bài hát ru em Việt Nam.

    Sau này, người ta thường trích dẫn câu này của Trịnh Công Sơn:

    "Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của ḿnh về những giấc mơ đời hư ảo."

    Lại phải hiểu chữ "hát rong" theo nghĩa hiện đại: không phải là ông sẩm chợ, hát vè Thất Thủ Kinh Đô ở phố Đông Ba mà Huy Cận đă mô tả, mà h́nh ảnh người du ca hiện đại, những baladins itinérants trong ca khúc Bob Dylan, trong quan niệm Nhạc Du Bất Tận, Never Ending Tour (1988). Nhà thơ Tô Thùy Yên, chuộng thuyết chính danh, nên đă nói rơ điều này và gọi Trịnh Công Sơn là "người du ca chính hiệu":

    "Người du ca là một nghệ sĩ đặc biệt đứng giữa âm nhạc và thi ca, đúng hơn, người du ca là một thi sĩ nhiều hơn là một nhạc sĩ.

    Người du ca thường khi xuất hiện và nổi bật trong những thời đại được coi là u uất nhiễu nhương, những thời đại mà tiếng nói con người bị lấn át, tự do con người bị cưỡng chế, giá trị con người bị hạ thấp, hạnh phúc con người bị tước đoạt và ước vọng con người bị bao vây.

    Thành thử những tác phẩm du ca có thể là những tác phẩm yếu hơi, dễ dăi, sơ sài, những tác phẩm thành h́nh trong một thoáng cảm hứng nhất thời, những tác phẩm như những kư tự ghi chép vội vàng trên một trang giấy t́nh cờ, và thả bay ngay theo thời thế."

    Trong Cơi Tạm, ăn xổi ở th́ này, nơi con người chôm liền chộp lẹ mọi cơ hội để mua lẻ và mua rẻ chút hư danh, có người c̣n viết được những lời như vậy, là nghiêm túc và tâm huyết. Nhất là viết cho một người vừa khác phe, vừa khác phái.

    Văn Cao cũng là một người sành chữ nghĩa. Trong câu chuyện thân mật, anh thường nói "Sơn là một troubadour (kẻ hát rong) có tài." Nhưng khi viết về Trịnh Công Sơn, anh dùng chữ chantre,6 trang trọng hơn, trong nghĩa "kẻ ngợi ca": "bởi Sơn đă hát về quê hương đất nước bằng cả tấm ḷng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui, và biết đau đến tận cùng những nỗi đau của Tổ Quốc Mẹ hiền".7 Troubadour hát nhạc mua vui cho trần thế, Chantre hát những Lời Buồn Thánh. Tuy nhiên, Trịnh Công Sơn cũng chỉ tự xưng là troubadour, như tên đặt cho pḥng tranh anh triển lăm chung với Đinh Cường, Bửu Chỉ tại Gallery Tự Do, tháng 8/2000. Năm 1969, bạn anh, họa sĩ Trịnh Cung, đă vẽ bức tranh đẹp, tên là Le troubadour = Kẻ du ca, hát để kêu gọi hoà b́nh. Những chuyện này đều tương quan với nhau.

    Khi Phạm Duy gọi ca khúc Trịnh Công Sơn là những ballades, không cùng một nguồn gốc với chữ baladin, cũng là có ư trang trọng.

    Các vị ấy tài cao, ư sâu mà ḷng th́ rộng răi; cho nên lời cũng khoáng đạt.

    *

    Hôm qua trăng sáng lờ mờ
    Em đi tát nước t́nh cờ gặp Anh

    Người con gái Việt Nam da vàng, ngày xưa đă hát như thế trong ca dao, là để che dấu khát vọng t́nh yêu, chứ trong đời sống nông thôn thời ấy, làm ǵ có cái t́nh cờ.

    Đời sống thế giới hiện nay, nghĩ cho cùng, cũng vậy thôi. Những giai điệu blues, nhạc phản kháng Bob Dylan, Joan Baez, thơ Prévert, Aragon, Eluard... Trịnh Công Sơn đă gặp gỡ, trên ḍng nhạc, ḍng thơ, ḍng tâm sự. Và ḍng lịch sử, dân tộc và thế giới. Trong cao trào lớn của loài người, giữa ḷng thế kỷ hai mươi: cao trào giải phóng dân tộc, chủng tộc và giai cấp. Đừng quên việc giải phóng phụ nữ: người phụ nữ Pháp đi phá ngục Bastille từ 1789, măi đến 11946 mới có quyền đầu phiếu.

    Người phụ nữ Việt Nam cũng vậy thôi: sau khi chờ chồng hoá đá, họ bước chân vào thế kỷ XX, th́ ngồi đan áo. Từ Buồn Tàn Thu của Văn Cao, qua Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, thơ hiện đại của ư Nhi, cho đến năm 2000, trong ca khúc Đêm Xanh của Bảo Chấn, cô ấy vẫn ngồi đan áo, trong khi dọc hè phố, áo pull bán rẻ mạt.

    Đan áo là h́nh ảnh ẩn nhẫn, thụ động mà người đàn ông đ̣i hỏi. Đan áo cho ai đó, hay để tưởng nhớ, chờ đợi ai đó. Ca khúc Trịnh Công Sơn, rất nhiều phụ nữ, nhưng không thấy họ đan áo. Mà chỉ... ngồi chơi, khi nghiêng vai, khi nghiêng đầu, khi nghiêng sầu. Ngồi chơi chán rồi th́ Đứng lên gọi mưa vào Hạ. Nếu khóc, cũng chỉ khóc cho những Chiều mưa đỉnh cao.... Mai kia, có ra đi, th́ cũng là Như những ḍng sông nhỏ, thậm chí Em ra đi...nơi này vẫn thế!

    Người đàn bà trong Trịnh Công Sơn đẹp dung dị và tự do b́nh thường. Tự do với cuộc đời, với t́nh yêu, thậm chí với t́nh dục. Nhạc Trịnh Công Sơn không nói đến t́nh dục, v́ nói đến... làm ǵ?

    Người phụ nữ nghe và hát nhạc Trịnh Công Sơn thoải mái, v́ chỉ hát, hay nghe, mà không phải làm ǵ cả, không phải Hái Mơ, Lái Đ̣, bán Hàng Cà Phê, Hàng Nước, không phải thay quần áo làm cô Sơn Nữ, cô Láng Giềng hay mua lấy số phận Người Yêu của Lính. Và nhất là không phải... đi lấy chồng: hạnh phúc không thấy đâu mà chỉ nghe oán trách dài dài suốt nửa thế kỷ: Em đi trên xác pháo, anh đi trong nước mắt... Em ơi t́nh duyên lỡ làng rồi, c̣n chi nữa mà chờ... Và, ở một chân trời khác, họ cũng không phải ba đảm đang, ba sẵn sàng, làm Người Mẹ Cầm Súng, xung phong đi gỡ ḿn ở Ngă Ba Đồng Lộc...

    Trong xă hội Việt Nam, cho đến hôm nay, chưa chắc ǵ người phụ nữ đă được giải phóng, và tôn trọng đúng mức. Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, họ được giải phóng và tôn trọng. Tôn trọng người đàn bà, không phải là tán tỉnh, Trịnh Công Sơn, rất hồn nhiên đă hiểu ra và nói vào điều đó.

    Nhạc phản chiến, đ̣i hỏi hoà b́nh của Trịnh Công Sơn th́ nhiều người biết, sẽ có nhiều người viết về đề tài này. Mới đây, trong buổi tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tại Californie, anh Đỗ Ngọc Yến có nói rơ và nói đúng, khác với Đỗ Ngọc Yến cách đây 40 năm và 20 năm.

    Tôi không đủ th́ giờ viết về đề tài này, nhưng sẽ đề cập đến ở một dịp khác, nay chỉ vội nói ngay mấy ư kiến chủ quan:

    1.- Dù đánh giá ra sao đi nữa, nhạc Trịnh Công Sơn cũng là sản phẩm của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, trong cả hai mặt tích cực và tiêu cực của chế độ này.

    Không có Miền Nam, cũng có thể có một Trịnh Công Sơn, nhưng là một Trịnh Công Sơn khác, đại khái như một Phạm Tuyên hay Phan Huỳnh Điểu.

    2.- Chính quyền Cộng Sản, sau 1975, sau những thăm ḍ, đă lưu dung một phần trong nhạc phẩm Trịnh Công Sơn và đă khéo sử dụng Trịnh Công Sơn. Có thể nói sau 25 năm chiến thắng, thành công hiếm hoi, nếu không phải là duy nhất, của chính sách văn hoá của chính quyền cộng sản, là tiếp thu nhạc Trịnh Công Sơn, mà công đầu là Thành Uỷ TPHCM. Dùng chữ "chính sách", là để nh́n toàn cảnh, chứ đối với một cá nhân, chắc chỉ có những quyết định cục bộ, nhất thời, bất thành văn.

    Trong chiến tranh chống Pháp, người Cộng Sản đă không thu phục được Phạm Duy. Sau 1954, họ không thu phục được Văn Cao. Nhưng sau 1975, họ thu hoạch được Trịnh Công Sơn, như vậy đă là thành công. Thành công về mặt hiện tượng, không phải về mặt bản chất. Về mặt bản chất, chuyên chính vô sản không bao giờ chấp nhận cái ǵ khác họ, không phải do họ tạo ra. Mặt khác, ca khúc Trịnh Công Sơn trước kia và bây giờ không có "tiêu chuẩn" đáp lại quy luật của hiện thực xă hội chủ nghĩa. Cố gắng đến đâu th́ cây cam cũng không tạo được quả chanh. Trước kia "hai mươi năm nội chiến từng ngày" là sai đường lối, bây giờ hỏi "Em c̣n nhớ hay Em đă quênữ vẫn sai lập trường.

    Chấp nhận - dù trong giới hạn - những dư vang của một chế độ chính trị mà ḿnh cố công bôi xoá, chính quyền TPHCM, trong chừng mực nào đó, đă nhượng bộ quần chúng, đă gián tiếp thừa nhận ḿnh thất bại, trong việc ngăn chặn nhạc vàng, và nhất là trong việc đào tạo một nền âm nhạc mới đáp ứng với quần chúng. Chính quyền Trung ương Hà Nội "wait and see" để cho TPHCM "phát huy sáng kiến"; nếu rách việc th́ ra tay chận đứng một "quyết đinh địa phương", nếu vô hại th́ án binh bất động, và thêm được tiếng là cởi mở, hoà hợp.

    3.- Về phía Trịnh Công Sơn, anh cũng khéo thoả hiệp với chính quyền mới. Việc anh ở lại Việt Nam sau 1975, hợp tác với các hội văn nghệ Huế, rồi TPHCM là hợp lư, sau khi đă sáng tác Khi đất nước tôi thanh b́nh, tôi sẽ đi thăm... Đó là sự chọn lựa tự do của anh. Cũng như Nguyễn Trăi xưa kia, cháu ngoại nhà Trần, mà không pḥ tá các phong trào kháng chiến Hậu Trần, lại đi hợp tác với đám nông dân Lam Sơn. Hay như Ngô Thời Nhậm, nhiều đời ăn lộc chúa Trịnh vua Lê, mà đă đi hợp tác với nhóm áo vải Tây Sơn. Từ đó người ta có thể thông cảm khi anh làm một số bài ca ngợi chế độ mới, không hay lắm và ít được hát, ít người biết: âu cũng là điều may mắn cho anh, v́ anh đă có một số câu chữ không hay và không cần thiết.

    Anh là người được hưởng nhiều bổng lộc của chính quyền, nhiều hơn những cán bộ đă vào sinh ra tử trong cả hai cuộc chiến tranh. Anh có thể hát Đời Cho Ta Thế. Thật ra, đời không cho ai cái ǵ mà chỉ đổi chác; anh đă phải trả giá, có khi là giá rất đắt. Anh không trả th́ nhiều người khác phải trả. ư thức điều đó có lần anh viết: "Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng. Nhưng đời đă tặng cho tôi món quà ấy th́ tôi không thể không nhận. Và khi đă nhận rồi th́ phải có trách nhiệm với mọi người."

    Nói th́ ngon lành như thế. Thực tế không đơn giản: người ta cho anh bó hoa, chai rượu. Ai cho anh trách nhiệm? Anh hát "mỗi ngày tôi chọn một niềm vui", khi bạn anh, Thái Bá Vân, phó viện trưởng Viện Mỹ Thuật Hà Nội than: "một năm không được một ngày vui." Muốn mua vui, phải vào Sài G̣n... chơi với Sơn. Nhưng chẳng qua là niềm vui của phận "chim lồng cá chậu." Hiểu như thế, bạn bè không đ̣i hỏi ǵ nhiều ở một nghệ sĩ yếu đuối, sống chết giữa trùng vây như anh.

    Người ta đánh giá một tác giả qua những tác phẩm anh ta đă thực hiện, chứ không qua những tác phẩm mà "lẽ ra" anh ta phải thực hiện. Nhân danh cái "lẽ ra" ấy, người làm văn học nghệ thuật đă là nạn nhân của bao nhiêu là oan khiên, oan khốc và oan khuất.

    Không những v́ chút t́nh riêng, nhưng c̣n v́ t́nh đời, luật công b́nh, luật tương đối, luật chơi, chúng ta nên gạt sang một bên nhiều cái "lẽ ra" đối với Trịnh Công Sơn, mà chỉ xét những cái anh đă làm ra.

    4.- Qua bốn mươi năm truân chuyên, Trịnh Công Sơn đă có những đóng góp lớn lao vào nền văn học nghệ thuật, vào đời sống xă hội, và lịch sử chính trị. Phần lớn sự nghiệp anh đă thành h́nh và thành công dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, mà mọi người đă biết. Bài này tạm thời chưa nói đến.

    Ngoài quần chúng cũ, nghe nhạc Trịnh Công Sơn v́ yêu thích hay để nhớ lại những âm hao xưa cũ, th́ thính giả khác, giới thanh niên Việt Nam ngày nay, hay người miền Bắc trước 1975, đón nhận ra sao?

    Trong xă hội Việt Nam ngày nay, ca khúc Trịnh Công Sơn mang lại chất Thơ cho đời sống. Nh́n qua một số đĩa hát CD, thu nhiều bài của nhiều soạn giả, th́ cái tên chung thường mượn tiêu đề của Trịnh Công Sơn, như Lời Thiên Thu Gọi (Hồng Nhung), Xin Mặt Trời hăy ngủ yên (Mỹ Linh), những tiêu đề nhiều âm vang, nhiều thi vị. Những nhạc sĩ khác, Dương Thụ, Phú Quang, Trần Tiến, Bảo Chấn... đều tài cao, nhưng được đào tạo và trưởng thành trong một xă hội duy dụng và thực dụng, óc sáng tạo cao siêu của họ không đặt ra những câu hỏi vớ vẩn như là Sóng Về Đâu? V́ thực tế: sóng th́... về đâu? Trong một mẩu xă hội nào đó, đặt những câu hỏi như thế, là có cơ nguy bị nhốt vào nhà thương điên.

    Chủ nghĩa hiện thực xă hội rất nghiêm khắc, yêu chuộng văn vần, một loại văn xuôi diễn ca (prose versifiée), với điều kiện loại văn vần ấy không có chất Thơ. Thi phẩm của "công thần" Nguyễn Đ́nh Thi c̣n bị gạt ra nói ǵ đến "hàng thần" Trịnh Công Sơn? Nhưng ca khúc Trịnh Công Sơn đă lọt qua được các mắt lưới, v́ đă cấp thời đáp lại được "lời gọi của khoảng trống" (l'appel du vide) và ca khúc là một thể loại nhẹ, phù phiếm (genre léger), chính quyền dùng dưỡng v́ có khả năng chận đứng bất cứ lúc nào - như đă làm với nhạc Văn Cao ngày xưa: thậm chí bài Quốc Ca c̣n bị hăm doạ thay đổi. Và đang làm với Phạm Duy ngày nay. Trong các CD thu tại Việt Nam hiện nay có ai thấy Giấc Mơ Hồi Hương, nhạc Vũ Thành?

    Chính quyền dung dưỡng ca khúc Trịnh Công Sơn không phải v́ động cơ nghệ thuật, nhưng như một thế phẩm (ersatz), trong thời kỳ quá độ, như bác sĩ ban thuốc an thần cho bệnh nhân mất ngủ. Trong khi chờ đợi, thính giả hưởng lạc khoản, được ngày nào hay ngày ấy. Họ đang được nghe bài Sóng Về Đâu một trong ca khúc cuối đời Trịnh Công Sơn:

    Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
    Đừng xô tôi ngă dưới chân người
    Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
    Ta xô biển lại sóng về đâu
    Sóng bạc đầu và núi ch́m sâu
    Ta về đâu đó
    Về chốn nào mây phủ chiêm bao

    Xă hội chủ nghĩa có thể tạo ra nhiều bài hát hay hơn. Nhưng tạo ra được cái ǵ na ná như thế th́ vô phương. Thiên tài không phải là người không bắt chước ai, mà là người không để ai bắt chước được ḿnh.

    5.- Chứng từ cho giá trị một tác phẩm nghệ thuật, là khả năng kết hợp rộng răi và lâu dài của nó. Nhạc Trịnh Công Sơn được hát rộng răi ở Miền Nam trước 1975, chúng ta đă biết. Nhưng trước 1975, Miền Bắc đă nghe và đă thích nhạc này, như Văn Cao đă kể lại (3). Nguyễn Duy kể thêm rằng ở dọc Trường Sơn, bộ đội miền Bắc cũng đă nghe:

    "Mặt trận Đường Chín-Nam Lào (1971)... trong căn hầm kèo bên ḍng sông Sêbănghiêng... Nghe, nghe trộm - vâng, lúc đó gọi là nghe trộm - đài Sài G̣n, t́nh cờ "gặp" Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly... Diễm Xưa... Mưa vẫn mưa rơi... làm sao em biết bia đá không đau... Quỷ thật! Giai điệu ấy và lời ca ấy tự nhiên ghim lại trong tâm tưởng tôi ngay từ phút bất chợt ấy. Rồi Như Cánh Vạc Bay... Quái thật! ... Cảm nhận bất chợt, những bài hát rất mượt mà, đắm đuối ấy... ừ th́ có buồn đấy, đau đấy, quặn thắt nữa đấy... nhưng c̣n là cái ǵ lành mạnh nảy nở trong đó. H́nh như là cái Đẹp... Bảng lảng, lờ mờ, khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rơ ràng là đẹp, đẹp làm sao... Và cũng hơi ma quái thế nào..." 8

    Người có ác ư có thể ngờ vực: Nguyễn Duy là nhà báo có quyền nghe đài, sau này là bạn rượu của Trịnh Công Sơn, nên thêm thắt. Th́ đây, một chứng từ khác đến từ một anh bộ đội, không quen biết ǵ, không điếu đóm ǵ với Trịnh Công Sơn, nhà văn Nguyễn Văn Thọ, hiện ở Berlin:

    "Năm 1972, khi ấy tôi là bộ đội trong rừng Trường Sơn. Thằng bạn tôi, sau chiến dịch Lam Sơn 719 vớ được cái đài Sony rât tốt.

    Đêm Trường Sơn, chờ cho mọi người đi ngủ hết, chúng tôi lén mở đài BBC và cả đài Sài G̣n. Đấy là lần đầu tiên tôi được nghe tiếng hát Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn.

    Chúng tôi là lớp người lớn lên từ Miền Bắc, thường quen với những khúc thức hùng tráng. Trong tiếng chộn rộn rú rít của sóng vô tuyến, tôi vẫn thấy một giọng lạ của một thứ âm nhạc mới. Một thứ nhạc da diết, đầy lăng đăng từ ca từ, tới khúc thức. Một thứ nhạc xanh không giống bất cứ nhạc xanh nào mà tôi từng nghe, kể cả trong những đĩa hát quay tay cổ mở suốt ngày rên rỉ ở đầu chợ trời những ngày sau hoà b́nh.

    Rất lạ, với tôi khi đó nhạc Trịnh Công Sơn như làn gió khởi từ xa xăm đâu đó, tách khỏi hận thù trận mạc, tha thiết một t́nh yêu đồng loại, giống ṇi, yêu bè bạn, hoà b́nh, đạo lư. Nó lạ, v́ lối ca từ phi tuyến tính, không giống cách viết truyền thống trên những ca khúc của Hà Nội khi đó." 9

    Quư hoá hơn nữa, anh Thọ đă ghi lại cảm giác khi tiến quân vào Sài G̣n, nghe nhạc Trịnh Công Sơn hát Nối Ṿng Tay Lớn, buổi trưa ngày 30/4/1975, trên đài Sài G̣n:

    "Mặt đất bao la... anh em ta về... gặp nhau trong băo lớn quay cuồng trời rộng...

    Lời ca không phải là tiếng thách thức tử thủ. Lời ca không phải là tiếng bể máu như kết cục thường của chiến cuộc, lời ca khi ấy làm chùng xuống không khí thù hận và hằn học.

    Chúng tôi tiến vào Sài G̣n...

    Nối Ṿng Tay Lớn

    Chiến tranh nào bao giờ chẳng có mặt trái, nhưng tiếng hát kia, bản nhạc ấy, mở ra cho cả hai bên nghe như một liều thuốc vô h́nh đă làm chùng xuống một thời khắc thường dễ nổi cáu và nổi doá.

    Đấy là kỷ niệm thứ hai của tôi về anh." 9

    Tiếng hát làm chùng tay súng. Một ngày, một giờ mà sinh mệnh của hằng triệu con người nằm trên đường tơ kẽ tóc, một sự kiện như thế không trọng đại hay sao?

    Văn học nghệ thuật Việt Nam, đă bao nhiêu lần đóng vai tṛ đó?

    Sau này, Thọ sang sinh sống tại Đức, theo diện xuất khẩu lao động, vẫn nghe nhạc Trịnh Công Sơn:

    "Ngay cả sau này, đôi khi tự an ủi ḿnh, nâng đỡ ḿnh, tôi khe khẽ hát "Tôi ơi đừng tuyệt vọng"... và nhiều bài ca khác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng tôi vẫn nhớ từng chi tiết và cám ơn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở trưa phát thanh trên làn sóng Sài G̣n ngày đo." 9

    ở một chân trời khác, nhiều người oán trách Trịnh Công Sơn về việc lên đài hát Nối Ṿng Tay Lớn, trưa ngày 30.4.1975. Thật ra, anh có hát hay không hát, th́ chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng tan ră. Anh có hát, và có hợp tác với chính quyền mới, âu cũng là một cách cứu văn vết tích văn hoá của nền Việt Nam Cộng Hoà đă đào tạo ra anh về mặt tài năng và sự nghiệp, thậm chí tạo ra cả một huyền thoại Trịnh Công Sơn.

    Một lần nữa, ông Nguyễn văn Trung, sau ảo ảnh Thanh Thúy nếu viết Trịnh Công Sơn Thực Chất và Huyền Thoại cũng sẽ nghĩ ra nhiều điều hay.

    Nếu có ai đó nói rằng: Trịnh Công Sơn là một khổ nhục kế, để kéo dài hơi thở văn hoá của một chế độ chính trị đă bị bức tử, th́ là lời đại ngôn, duy cảm, nghịch lư, vớ vẩn.

    Vớ vẩn như một số lời ca trong tác phẩm Trịnh Công Sơn. Nhưng biết đâu chẳng là sự thực? Sự thực trong bao nhiêu cái vớ vẩn, kể cả trong lịch sử.

    "Không xa đời và cũng không xa mộ người..."

    Trịnh Công Sơn đă xa đời lúc 12 giờ 45 tại Sài G̣n, ngày 01.4.2001.

    Đám tang ngày 4 tháng Tư, nghe nói lớn lắm, hàng trăm tràng hoa ngập con hẻm 47 Duy Tân. Hàng vạn người đưa tiễn, trong đó có thể có người đi tiễn một điều ǵ khác, một tâm t́nh hay u hoài nào đó của riêng ḿnh, chẳng hạn.

    André Malraux có nói đâu đây rằng "trong Thiên Chúa Giáo, chỉ có những pho tượng là vô tội." Trịnh Công Sơn đă sống non nửa sau cuộc đời, trong một chế độ chính trị mà các pho tượng cũng không phải là vô tội.

    Những đoá hoa đặt trên mộ Toa, Sơn ơi, không phải là đoá hoa nào cũng vô tội.

    Bây giờ moa mới khóc Toa đây. Tại nhà moa, ngồi ở chỗ Toa ưa ngồi vẽ, nh́n ḍng sông nhỏ, mà Toa đă gọi là sông An Cựu.

    Sơn ơi, đời này, và sang đời khác nữa, làm ǵ có đến hai ḍng sông An Cựu?

    an cựu, Sơn ơi.

    1. - Trịnh Công Sơn, Nhạc và Đời, nxb Tổng hợp, Hậu Giang.

    2.- Đất Việt, Canada, Tháng Sáu, 1986. Thật ra bài œớt Mi làm năm 1958, nxb An Phú, in năm 1959.

    3.- Văn Cao, Lời Bạt cho tập nhạc Trịnh Công Sơn, Em C̣n Nhớ Hay Em Đă Quên, nxb Trẻ, TPHCM, 1991, tr. 115

    4.- Phạm Duy, Hồi Kư Thời Phân Chia Quốc Cộng, nxb Phạm Duy Cường, California, 1991, tr.287.

    5.- Đất Việt Canada, tháng Sáu, 1986.

    6.- Văn Cao, Lời Bạt , sđd.

    7.- Văn Cao. Lời Bạt, sđd.

    8.- Nguyễn Duy, trong Tôi Thích Làm Vua, nxb Văn Nghệ, TPHCM1987.

    9.- Nguyễn Văn Thọ, Nhớ Trịnh Công Sơn, Nước Đức, ngày 4.4.2001

    ĐẶNG TIẾN

    Orléans, 14.04.2001